Tăng trưởng GDP 2 con số: Ngành điện bước vào chu kỳ phát triển mới
Mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu mở rộng nhanh nguồn điện, lưới truyền tải và năng lực điều hành, đáp ứng nhu cầu gia tăng từ sản xuất công nghiệp, AI, trung tâm dữ liệu, giao thông điện hóa… Bởi phía sau mỗi nhà máy, dây chuyền sản xuất hay trung tâm dữ liệu vẫn là một điều kiện nền tảng: Nguồn điện đủ và ổn định.
Công nhân Điện lực Cửa Lò (PC Nghệ An) thi công kéo dây cấp điện cho khách hàng mới, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận điện năng phục vụ phát triển sản xuất và đời sống. Ảnh: Huy Hùng - TTXVN

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, nhu cầu điện được dự báo tăng từ 10,5-12,9%/năm. Điện thương phẩm năm 2030 đạt từ 500,4-557,8 tỷ kWh. Hệ số đàn hồi điện/GDP ở mức 1,1-1,2 lần, cho thấy nhu cầu điện vẫn tăng nhanh hơn GDP khi nền kinh tế tăng trưởng.

Thực tế năm 2026 đã cho thấy áp lực này. Công suất cực đại toàn hệ thống đạt khoảng 58.500 MW trong đợt nắng nóng cuối tháng 6, riêng miền Bắc lên tới 30.200 MW, tăng hơn 14,4%. Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) dự báo công suất cực đại toàn quốc đến năm 2030 có thể lên 100.000-110.000 MW.

Theo ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc NSMO, miền Bắc đang chịu áp lực lớn khi nguồn phát nội tại triển khai chậm trong khi các đường dây truyền tải 500 kV liên miền đã tiệm cận giới hạn vận hành. Đỉnh phụ tải thường xuất hiện vào khoảng 21-23 giờ, khi điện mặt trời không còn phát điện.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn đến năm 2030 cần đạt 180.000-220.000 MW, đồng nghĩa gần 90.000 MW nguồn mới phải được bổ sung trong vài năm tới.

Nhưng nguồn điện chỉ là một nửa bài toán. Miền Trung đang cho thấy thách thức ở chiều ngược lại. Theo ông Trần Nguyễn Bảo An, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVNCPC) đến năm 2030 trên địa bàn 7 tỉnh do đơn vị quản lý có thể có khoảng 50.000 MW nguồn điện, trong khi phụ tải dự kiến chỉ khoảng 10.000 MW.

“EVNCPC đã làm việc trực tiếp với từng địa phương để xây dựng phương án phát triển lưới điện đồng bộ, tìm giải pháp từng bước cân đối cung cầu tại chỗ, giảm áp lực truyền tải ra miền Bắc và miền Nam”, ông Trần Nguyễn Bảo An nói. Như vậy, bài toán của ngành điện không chỉ là xây bao nhiêu nhà máy, mà còn là đưa điện đi đâu và bằng cách nào.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) dự kiến dành khoảng 830.000 tỷ đồng cho đầu tư giai đoạn 2026-2030, tập trung hoàn thành 15 dự án nguồn điện trọng điểm với tổng công suất hơn 6.000 MW, triển khai khoảng 2.000 MW hệ thống lưu trữ năng lượng và gần 300 dự án lưới điện 220-500 kV.

Theo ông Trịnh Quang Ninh, Phó trưởng Ban Kế hoạch EVN, cùng với các dự án nguồn trọng điểm, EVN đang tập trung đầu tư lưới điện và lưu trữ để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu phụ tải. Quy mô đầu tư này cho thấy điện đang bước vào một chu kỳ phát triển mới; trong đó nguồn, lưới và lưu trữ phải được triển khai đồng bộ.

Tại Quảng Trị, công suất phụ tải trong 7 tháng qua tăng trên 30%, sản lượng điện đạt khoảng 1,4 tỷ kWh, tăng 14,4%. Công ty Điện lực Quảng Trị đang triển khai 12 dự án lưới điện 110 kV và bố trí hơn 300 tỷ đồng cho các dự án chống quá tải lưới phân phối.

Cùng với đầu tư, công nghệ giúp Công ty Điện lực Quảng Trị khai thác hiệu quả hơn năng lực hiện có. Việc ứng dụng SCADA, DMS, DAS và giám sát phụ tải cực đại đã giúp thời gian xử lý sự cố tại Quảng Trị được rút từ gần 2 giờ xuống khoảng 5 phút.

Công nhân ngành điện kiểm tra thiết bị đầu vào nguồn cung cấp điện phục vụ khách hàng ở Công ty TNHH Bảo Long, phường Kỳ Lừa, tỉnh Lạng Sơn. Ảnh: Vũ Sinh - TTXVN

Một công cụ khác ngày càng quan trọng là pin lưu trữ năng lượng (BESS). Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đang triển khai tổng quy mô 530 MW/1.060 MWh tại 84 trạm biến áp 110 kV. Hệ thống đầu tiên tại Ninh Bình đã được đóng điện ngày 21/8 tại trạm 110 kV Phúc Sơn với công suất 5 MW và dung lượng 10 MWh.

BESS cho phép tích trữ điện khi phụ tải thấp hoặc nguồn cung dư thừa và đưa điện trở lại hệ thống khi nhu cầu tăng cao, đồng thời hỗ trợ giảm quá tải cục bộ. Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 10.000-16.300 MW công suất lưu trữ.

Cùng với quy mô, cấu trúc nhu cầu điện cũng đang thay đổi. AI và trung tâm dữ liệu có thể trở thành nhóm khách hàng quan trọng trong những năm tới. Đây là các phụ tải vận hành liên tục với yêu cầu cao về độ ổn định và chất lượng điện.

Savills dự báo công suất thị trường trung tâm dữ liệu tại Việt Nam có thể đạt khoảng 950 MW vào năm 2030. Trong khi đó, đến cuối năm 2025 Việt Nam có khoảng 215.000 ô tô điện và gần 2,6 triệu xe máy điện. Đến năm 2030, số ô tô điện có thể đạt 1,6 triệu chiếc, xe máy điện 8-13 triệu chiếc.

Những thay đổi này khiến điện không còn chỉ là một đầu vào của sản xuất. Với trung tâm dữ liệu, AI hay công nghiệp công nghệ cao, khả năng cung cấp điện ổn định và liên tục có thể trở thành một yếu tố quyết định địa điểm đầu tư.

Trong khi nguồn và lưới cần nhiều năm để đầu tư, tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải có thể tạo hiệu quả nhanh hơn. Khuyến khích doanh nghiệp dịch chuyển phụ tải khỏi giờ cao điểm, đổi mới công nghệ, phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu kết hợp lưu trữ sẽ giúp giảm áp lực lên công suất cực đại.

Chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng, cần phát huy nguồn điện phân tán, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng và ứng dụng công nghệ lưu trữ để giảm hệ số đàn hồi năng lượng.

Bên cạnh bài toán kỹ thuật là bài toán vốn. Bộ Công Thương ước tính nhu cầu vốn đầu tư phát triển năng lượng giai đoạn 2026-2030 lên tới 4,9-5,5 triệu tỷ đồng.

Nguồn lực này phải dành cho nguồn điện, lưới truyền tải và lưu trữ. Quy mô vốn rất lớn khiến việc huy động nguồn vốn dài hạn, cùng với sự tham gia của thị trường vốn và khu vực tư nhân, trở thành yêu cầu quan trọng.

Như vậy, tăng trưởng GDP hai con số đang kéo theo một chu kỳ đầu tư năng lượng mới; trong đó nguồn điện, lưới truyền tải và phụ tải phải được phát triển đồng bộ. Đầu tư cho điện không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, mà còn mở thêm dư địa cho sản xuất, thu hút đầu tư và phát triển các ngành kinh tế mới./.


Tin liên quan

Nghị quyết số 20-NQ/TW: Biến không gian mới thành động lực tăng trưởng lâu dài

Nghị quyết số 20-NQ/TW mở ra tầm nhìn chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh với mục tiêu các tỉnh thành ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước đến năm 2030. Trước yêu cầu đô thị hóa nhanh đòi hỏi phải tìm kiếm những không gian phát triển mới, Luật Phát triển đô thị 2026 được thông qua với cơ chế cho các dự án lấn biển - được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển, kiến tạo các cực tăng trưởng mới và biến tiềm năng kinh tế biển thành động lực bứt phá lâu dài.

Tin cùng chuyên mục

Củng cố lòng tin, mở rộng hợp tác và chủ động đóng góp cho tương lai chung của nhân loại

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) Khóa 81 và có các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ từ ngày 20/9, Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ, ngày 17/9 đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại New York về ý nghĩa của chuyến công tác đối với quan hệ Việt Nam-LHQ, cũng như quan hệ song phương với Hoa Kỳ.

Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng: Việt Nam-Hoa Kỳ có nhiều dư địa thúc đẩy hợp tác

Nhân dịp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và có các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ từ ngày 20/9, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Dũng đã trả lời phỏng vấn TTXVN về ý nghĩa của chuyến công tác lần này đối với quan hệ song phương, cũng như những lĩnh vực hợp tác có nhiều dư địa và cần được ưu tiên thúc đẩy trong thời gian tới.

Việt Nam đạt nhiều kết quả về công tác bảo vệ trẻ em

Thời gian qua, công tác bảo vệ trẻ em tại Việt Nam đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Hệ thống chính sách, pháp luật ngày càng được hoàn thiện. Hơn 80% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp phù hợp với nhu cầu, điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương. Tỷ lệ trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giảm đáng kể, từ 5,4% xuống còn 1,31%. 100% trẻ em bị xâm hại được áp dụng các biện pháp hỗ trợ, can thiệp phù hợp. Hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em được triển khai theo 3 cấp độ, gồm phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp. Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111 tiếp tục phát huy vai trò trong tiếp nhận thông tin, phối hợp xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quyền trẻ em. Ngày 8/9/2026, Việt Nam cũng chính thức khai trương Tổng đài phòng, chống bạo lực gia đình số 117. Những kết quả trên đã góp phần khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em.

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Nhiệm vụ, giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Phần 3 và hết)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia. Phấn đấu đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Mục tiêu chung về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Phần 2)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia. Phấn đấu đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Nghị quyết số 26-NQ/TW: Quan điểm chỉ đạo về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới (Phần 1)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết đề ra mục tiêu: Phát triển du lịch Việt Nam chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo, giàu bản sắc văn hoá, có giá trị gia tăng cao; có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, có sức lan toả mạnh đối với các ngành, lĩnh vực khác, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Nâng cao tỉ lệ đóng góp của ngành du lịch vào tăng trưởng kinh tế; gắn phát triển du lịch với phát triển công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người, nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm quốc gia. Phấn đấu đến năm 2045, du lịch Việt Nam phát triển hiện đại, bền vững, khẳng định vai trò động lực của nền kinh tế, đóng góp trực tiếp từ 14 - 15% GDP; thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới; là điểm đến du lịch hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam; phấn đấu đón 70 triệu lượt khách du lịch quốc tế.

Một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW: Một số nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới

Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Thông báo số 160-TB/VPTW, ngày 29/8/2026). Thông báo đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới: Tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW, chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện, đưa Nghị quyết vào cuộc sống và tạo kết quả cụ thể, thực chất. Tập trung bảo đảm các điều kiện thiết yếu cho giáo dục, trước hết là mục tiêu “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên”. Tạo đổi mới thực chất từ bên trong ngành Giáo dục. Giáo dục đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho tương lai đất nước. Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng cần đặt công nghệ đúng vị trí là phương tiện giáo dục, không thay thế bản chất nhân văn của giáo dục. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu.

Một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW: Chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện

Văn phòng Trung ương Đảng đã ban hành Thông báo kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về kết quả 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Thông báo số 160-TB/VPTW, ngày 29/8/2026). Thông báo nhấn mạnh: Qua 1 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, toàn hệ thống chính trị đã nghiêm túc, khẩn trương, quyết liệt thực hiện, tạo được chuyển biến rõ nét về nhận thức, thể chế, chính sách, huy động nguồn lực và phương thức quản trị. Nhiều điểm nghẽn tồn tại lâu năm đã được tháo gỡ; chính sách đối với nhà giáo và người học được quan tâm hơn; giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn kết hơn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu nguồn nhân lực.