Nghị quyết 10-NQ/TW: Nâng chất dòng vốn FDI, tạo động lực tăng trưởng mới
Sau khi mở rộng không gian phát triển, cùng sự hình thành và hoàn thiện của mạng lưới giao thông, khu công nghiệp và các trung tâm logistics, Cần Thơ đang đứng trước cơ hội định hình lại vai trò trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Dây chuyền sản xuất cụm dây dẫn điện một doanh nghiệp FDI ở Phú Thọ. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Sau khi mở rộng không gian phát triển, cùng sự hình thành và hoàn thiện của mạng lưới giao thông, khu công nghiệp và các trung tâm logistics, Cần Thơ đang đứng trước cơ hội định hình lại vai trò trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mục tiêu trong giai đoạn mới không chỉ là thu hút thêm vốn, mà quan trọng hơn là giữ lại nhiều hơn giá trị từ mỗi dự án đầu tư.

*Không chỉ nhìn vào số vốn đăng ký

Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn là một bộ phận quan trọng của kinh tế Cần Thơ, song quy mô vốn đăng ký chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả và mức độ đóng góp của dòng vốn này đối với tăng trưởng.Theo PGS.TS Phan Anh Tú, Phó Hiệu trưởng Trường Kinh tế, Đại học Cần Thơ, FDI đang là một “trụ đỡ” tương đối ổn định đối với kinh tế thành phố, nhưng chưa trở thành động lực tăng trưởng mới.

Vì vậy, thay vì gia tăng đơn thuần số dự án và vốn đăng ký, Cần Thơ cần chú trọng lựa chọn dòng vốn phù hợp, rút ngắn thời gian đưa dự án vào hoạt động, nâng năng lực hấp thụ và tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực trong nước.Trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026, Cần Thơ không ghi nhận dự án FDI nào chấm dứt hoạt động.

Thành phố cấp mới 2 dự án với tổng vốn đăng ký 211.108 USD, trong khi 3 dự án đang hoạt động điều chỉnh tăng vốn thêm 13,56 triệu USD; trong đó, Công ty De Heus chi nhánh Cần Thơ tăng 1,53 triệu USD; Công ty Wilmar Agro Việt Nam tăng 4,94 triệu USD và Dược Hậu Giang tăng 7,09 triệu USD.Việc các nhà đầu tư hiện hữu tiếp tục tăng vốn cho thấy khả năng duy trì hoạt động và niềm tin của doanh nghiệp đối với môi trường đầu tư.

Đây cũng là cơ sở để thành phố coi việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho các dự án đang hoạt động mở rộng là một phần quan trọng của xúc tiến đầu tư.Trong 2 quý đầu năm 2026, khu vực FDI tại Cần Thơ đạt doanh thu khoảng 1,196 tỷ USD, trong khi kim ngạch xuất khẩu đạt 430,63 triệu USD, tương đương khoảng 36% doanh thu. Cơ cấu này cho thấy nhiều doanh nghiệp FDI vẫn tập trung vào chế biến nông, thủy sản, thức ăn chăn nuôi, dược phẩm và cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho thị trường trong nước và khu vực.

Theo TS Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong 8 tháng đầu năm 2026, Cần Thơ thu hút 3 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký 25,22 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI lên 125, với tổng vốn đăng ký hơn 7,153 tỷ USD. Tại các khu chế xuất, khu công nghiệp và cụm công nghiệp do Ban Quản lý quản lý có 45 dự án FDI, tổng vốn đăng ký hơn 4,66 tỷ USD, vốn thực hiện hơn 1,23 tỷ USD, tương đương khoảng 26,4%.

Từ thực tế này, các chuyên gia cho rằng hiệu quả FDI cần được đánh giá bằng những chỉ tiêu rộng hơn như giá trị gia tăng trên mỗi đồng vốn, chất lượng việc làm, mức độ chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng và đóng góp vào năng lực cạnh tranh địa phương.

Do đó, Cần Thơ không nhất thiết chạy theo những dự án có vốn đăng ký lớn, mà cần ưu tiên dự án phù hợp lợi thế, tạo giá trị gia tăng cao, liên kết với doanh nghiệp trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu.Khâu xúc tiến đầu tư cũng cần chuyển từ giới thiệu, gặp gỡ sang chủ động chuẩn bị “sản phẩm đầu tư” cụ thể. Trong 8 tháng đầu năm, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp đã tiếp và làm việc với khoảng 30 nhà đầu tư; trong 7 tháng, thành phố đón 525 đoàn với 3.535 lượt khách nước ngoài.

Tuy nhiên, số dự án FDI mới vẫn khiêm tốn.Theo PGS.TS Phan Anh Tú, Cần Thơ cần xây dựng bộ hồ sơ “sẵn sàng đầu tư” cho từng khu công nghiệp ưu tiên, thể hiện rõ quỹ đất sạch, quy hoạch, hạ tầng, giá thuê đất, khả năng cung cấp điện, nước, xử lý nước thải và thời gian giải quyết các thủ tục liên ngành. Đây là cách chuyển xúc tiến đầu tư từ “mời gọi” sang chủ động kiến tạo danh mục dự án.

*Hạ tầng mở rộng, liên kết để tạo giá trị

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, hệ thống khu công nghiệp của thành phố trải rộng từ Trà Nóc, Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Tân Phú Thạnh, Đông Phú, Sông Hậu đến An Nghiệp, Trần Đề, Đại Ngãi, Long Thạnh, Tân Bình. Thành phố cũng đang phối hợp khảo sát, đề xuất quy mô, ranh giới Khu kinh tế Trần Đề, mở thêm dư địa cho công nghiệp, logistics và kinh tế biển.Hạ tầng giao thông liên vùng được kỳ vọng tiếp tục làm thay đổi lợi thế địa điểm của Cần Thơ.

Tuyến đường sắt Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ dài 175,2 km, đi qua 5 tỉnh, thành phố, được kỳ vọng góp phần tái cấu trúc không gian kinh tế và giảm chi phí logistics. Hiện chi phí logistics tại Đồng bằng sông Cửu Long ở mức khoảng 18-22% giá trị hàng hóa; dự án phấn đấu khởi công năm 2027.Cùng với các tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, Cần Thơ - Cà Mau, hệ thống quốc lộ và định hướng kết nối cảng biển Trần Đề, mạng lưới hạ tầng tạo điều kiện để Cần Thơ phát huy vai trò trung tâm kết nối sản xuất, logistics, dịch vụ và thị trường của toàn vùng.Tuy nhiên, hạ tầng chỉ tạo ra cơ hội; khả năng biến cơ hội thành dòng vốn và giá trị kinh tế phụ thuộc vào năng lực chuẩn bị của địa phương.

Tại Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp, 100% hồ sơ được tiếp nhận, giải quyết đúng hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 95,3%. Song những điểm nghẽn vẫn xuất hiện ở giải phóng mặt bằng tại các khu công nghiệp Vĩnh Thạnh giai đoạn 2, Đông Phú 2, Sông Hậu 2 và trong phối hợp xử lý thủ tục về đất đai, quy hoạch, môi trường, điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Vì vậy, bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, Cần Thơ cần nâng năng lực phối hợp liên ngành, chuẩn bị quỹ đất sạch và đầu tư đồng bộ hạ tầng khu công nghiệp.

Theo PGS.TS Phan Anh Tú, nhân lực và logistics chưa phải rào cản lớn nhất đối với FDI hiện nay, nhưng có thể trở thành yếu tố quyết định đối với dòng vốn tương lai. Do đó, đào tạo nhân lực cần đi trước, gắn với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.Một hướng đi khác là xây dựng “bản đồ đầu tư” của vùng, xác định rõ vai trò và lợi thế của từng địa bàn trong chuỗi giá trị, tránh cạnh tranh thu hút đầu tư phân tán.

Cần Thơ có thể phát huy thế mạnh về logistics, tài chính, khoa học - công nghệ, nhân lực chất lượng cao và dịch vụ doanh nghiệp; các địa phương khác đảm nhiệm những khâu phù hợp về nguyên liệu, chế biến, năng lượng và kinh tế biển.Định hướng này mở ra dư địa cho thế hệ FDI mới trong chế biến sâu nông, thủy sản, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học, logistics đa phương thức, kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, tự động hóa, chuyển đổi số và các dịch vụ dựa trên tri thức.

Đặc biệt, FDI cần được đặt trong mối quan hệ hai chiều với doanh nghiệp trong nước. Cần Thơ cần khảo sát 125 dự án FDI, xác định nhu cầu đầu vào và xây dựng chương trình phát triển nhà cung ứng địa phương. Khi doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, giá trị FDI sẽ lan tỏa qua đơn hàng, công nghệ, kỹ năng quản trị và tiêu chuẩn sản xuất.

Đại học Cần Thơ có thể tham gia xây dựng trung tâm dữ liệu và quan trắc đầu tư nước ngoài của vùng, hỗ trợ xây dựng bộ chỉ số hiệu quả FDI, khảo sát doanh nghiệp và cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chính sách.

Theo TS Trần Hữu Hiệp, Cần Thơ đang đứng trước “cửa sổ cơ hội” để nâng cấp dòng vốn FDI, nhưng cần chuyển từ tư duy thu hút vốn sang lựa chọn, hấp thụ và lan tỏa giá trị đầu tư. Hiệu quả FDI cần được nhìn từ lượng giá trị gia tăng giữ lại, việc làm chất lượng, công nghệ và năng lực quản trị được chuyển giao, cùng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi giá trị.Qua đó, Cần Thơ có thể phát huy đầy đủ hơn vai trò trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long, trở thành đầu mối kết nối nguồn lực, thị trường, logistics, tri thức và doanh nghiệp; biến lợi thế về không gian và hạ tầng thành năng lực cạnh tranh, biến dòng vốn FDI thành nguồn lực cho tăng trưởng và phát triển bền vững của thành phố và toàn vùng./.

Tin liên quan

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài 1- Sức hút nơi “đất lành”, “đất sạch”

Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 (Nghị quyết 10-NQ/TW) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang mở ra một cách tiếp cận mới trong thu hút dòng vốn ngoại: không còn chạy theo số lượng dự án hay ưu đãi đơn lẻ, mà hướng tới chọn lọc dòng vốn, xây dựng hệ sinh thái đầu tư; chuyển hóa dòng vốn ngoại thành nguồn lực nội sinh; đưa doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất...

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài 2- Tạo “đường băng” mới đón dòng vốn ngoại “hạ cánh”

Nếu trước đây, việc thu hút đầu tư, nhất là dòng vốn nước ngoài, chủ yếu các địa phương dựa trên lợi thế về quỹ đất, chính sách ưu đãi và chi phí, thì trong giai đoạn mới, thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, tỉnh Bắc Ninh – Hưng Yên sẽ hướng tới cạnh tranh bằng những giá trị mới. Hai tỉnh này đã và đang chuẩn bị một hệ sinh thái cơ bản hoàn chỉnh để đón dòng vốn FDI theo hướng ưu tiên lĩnh vực khoa học công nghệ, chíp bán dẫn, AI, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và có trách nhiệm xã hội.

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài cuối - Những "điểm chạm" nối hai cực công nghiệp

Thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, các địa phương đều đứng trước cùng một yêu cầu: làm tốt nhất những gì có thể để đón dòng vốn ngoại, đồng thời biến nguồn lực ấy thành công nghệ, việc làm, thu nhập, chuỗi liên kết và những động lực tăng trưởng mới. Khi từng địa phương cùng nâng chuẩn môi trường đầu tư, cùng tạo dựng hệ sinh thái đủ sức giữ chân và phát triển doanh nghiệp, dòng vốn FDI sẽ không chỉ là những con số đăng ký, mà trở thành nguồn lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển nhanh, bền vững hơn. Tuy nhiên, để những mục tiêu trên thành hiện thực, cấp thẩm quyền cũng cần xem xét hóa giải "điểm nghẽn", tạo cơ chế đặc thù, đủ mạnh để chính sách phát huy hiệu quả tốt nhất tại mỗi địa phương.

Tin cùng chuyên mục

Chống ngập đô thị không chỉ chạy theo những trận mưa

Những dự án chống ngập quy mô hàng nghìn tỷ đồng đang được Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đẩy nhanh triển khai không chỉ nhằm giải quyết những điểm úng ngập trước mắt, mà còn từng bước nâng sức chống chịu của hai đô thị lớn trước các hình thái thời tiết ngày càng cực đoan.

Chuyên gia gợi ý hướng đi giúp Việt Nam tạo đột phá trong công nghệ sinh học cây trồng

Việt Nam có nhiều lợi thế để tạo đột phá trong công nghệ sinh học cây trồng nếu biết khai thác nguồn tài nguyên di truyền phong phú, ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), chỉnh sửa gene và tăng cường liên kết giữa nghiên cứu với doanh nghiệp. Tiến sĩ Quách Truyền, chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học thực vật, đã khẳng định như vậy trong cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên TTXVN tại Washington về nông nghiệp công nghệ cao của Mỹ và kinh nghiệm đối với Việt Nam.

Bài 5. Con đường đã rộng mở: Vững tin vươn khơi, khẳng định Việt Nam là quốc gia biển mạnh

Từ những dải đất ven biển trải dài từ Quảng Ninh đến Cà Mau, những mạch nguồn phát triển từ biển đang dần được kết nối trong một không gian rộng lớn hơn. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, cũng đã xác lập một tầm nhìn chiến lược mới. Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế. Trong khi đó, việc sắp xếp đơn vị hành chính đang mở ra không gian, dư địa và lợi thế mới cho phát triển.

Bài 4. Từ rừng núi ra biển lớn: Mở rộng không gian, kiến tạo cực tăng trưởng mới

Từ những vùng cao nguyên, miền núi từng bị chia cắt bởi địa giới hành chính đến các đô thị, cảng biển, vùng ven biển và những đảo tiền tiêu, cuộc sắp xếp, hợp nhất các tỉnh, thành phố đang mở ra không gian phát triển rộng lớn, liên thông và giàu tiềm năng hơn. Khi “Rừng - Núi - Cao nguyên - Biển” hay “Hậu phương - Cảng biển - Logistics” không còn bị bó hẹp bởi ranh giới cũ, các lợi thế riêng lẻ sẽ có điều kiện được kết nối, bổ trợ và hình thành những chuỗi giá trị kinh tế biển quy mô lớn.

Bài 2. Lãng phí “kho báu điện gió ngoài khơi”: Bỏ ngỏ cơ hội, chậm bước ra biển lớn

Tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu thực tế tại 21 tỉnh, thành phố ven biển trên cả nước, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus nhận thấy hành trình vươn ra biển tại các địa phương đang gặp nhiều điểm nghẽn, không chỉ khiến nuôi biển công nghiệp “mắc cạn,” mà còn gây lãng phí “kho báu” năng lượng gió ngoài khơi được đánh giá thuộc nhóm lớn nhất thế giới.