Tăng tính tự chủ sản xuất Ethanol trong nước để đạt lợi ích kép
Với năng lực thực tế trong sản xuất cồn sinh học Ethanol-nhiên liệu đầu vào phục vụ pha chế xăng sinh học mới đáp ứng được hơn 20% nhu cầu, việc sớm có các chính sách đồng bộ, phù hợp để phát triển chuỗi giá trị nhiên liệu trong nước là rất quan trọng, từ đó giúp nâng cao tính tự chủ năng lượng và hiện thực mục tiêu giảm phát thải.
Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất. Ảnh: BSR


*Sản xuất Ethanol nội địa mới đáp ứng khoảng 20% nhu cầu

Theo Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam Đỗ Văn Tuấn, mặc dù công suất thiết kế của 6 nhà máy sản xuất Ethanol hiện hữu tại Việt Nam lên tới 600 nghìn m3/năm, có thể đáp ứng khoảng 45% nhu cầu Ethanol cho phối trộn xăng sinh học nếu chạy đủ công suất. Tuy nhiên, sản lượng sản xuất Ethanol trên thực tế của các nhà máy này mới đáp ứng khoảng 20% nhu cầu, phần còn lại vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu. Thực tế này cho thấy ngành sản xuất Ethanol vẫn chưa tận dụng được hết năng lực hiện có do thị trường chưa hình thành được các điều kiện đủ ổn định để doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng sản xuất.

Bên cạnh đó, việc đảm bảo nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy sản xuất Ethanol chạy 100% công suất vẫn còn nhiều thách thức bởi phần lớn Ethanol trong nước hiện được sản xuất từ sắn, một loại nguyên liệu có trữ lượng hạn chế và hiệu suất thấp, khiến chi phí sản xuất tăng cao.

Ông Phạm Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Nhà Xanh Việt Nam cho biết, nguyên liệu sản xuất Ethanol của doanh nghiệp chủ yếu đến từ sắn và ngô; trong đó sắn được thu mua hoàn toàn trong nước thông qua các thương nhân và doanh nghiệp kinh doanh nông sản thu mua trực tiếp từ nông dân. Đối với ngô, doanh nghiệp sử dụng song song nguồn trong nước và nguồn nhập khẩu từ các thị trường Nam Mỹ như Argentina, Brazil cũng như từ Hoa Kỳ.

Cũng theo ông Tuấn, ngô có nguồn cung sẵn hơn, chất lượng ổn định hơn về độ tinh bột, tạp chất và các chỉ tiêu kỹ thuật cho sản xuất Ethanol trong khi sắn lại có tính mùa vụ rất rõ, vào vụ thì nguồn cung dồi dào và giá thấp, nhưng hết vụ thì giá tăng lên khá mạnh. Để hạn chế rủi ro về nguồn cung, doanh nghiệp áp dụng chiến lược linh hoạt trong lựa chọn nguyên liệu và chủ động mua dự trữ.

Trong khi đó, Giám đốc Công ty cổ phần Nhiên liệu sinh học Dầu khí Miền Trung (BSR-BF) Phạm Văn Vượng, đơn vị quản lý và vận hành Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất cho biết thực hiện chỉ đạo của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các cổ đông, doanh nghiệp đã triển khai phương án phục hồi sản xuất kinh doanh, đồng thời phối hợp với các đối tác hợp tác kinh doanh (BCC) gồm Công ty Nhà xanh Việt Nam và Tổng Công Ty Hóa Chất Và Dịch Vụ Dầu Khí (PVChem) khẩn trương bảo dưỡng, đưa Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất trở lại vận hành nhằm đáp ứng nhu cầu Ethanol cho pha chế xăng sinh học.

BSR-BF cũng triển khai 14 nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ nút thắt công nghệ, nâng công suất khả dụng, cải thiện hiệu suất lên men, gia tăng giá trị sản phẩm cùng phụ phẩm, tận dụng lợi thế carbon thấp, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Theo kế hoạch, trong quý III này, BSR-BF sẽ chuyển đổi nguyên liệu sản xuất từ sắn sang ngô, tiếp tục nâng công suất vận hành bình quân lên 70-80%, đồng thời thử nghiệm vận hành ở mức 125% công suất thiết kế sau khi các điều kiện kỹ thuật được đáp ứng. BSR-BF cũng đặt mục tiêu nâng công suất khả dụng lên 150%, qua đó gia tăng doanh thu, rút ngắn thời gian trả nợ, sớm phục hồi vốn chủ sở hữu và nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.

Sang quý IV/2026, BSR-BF tiếp tục triển khai các giải pháp nâng công suất khả dụng, đồng thời hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và đối tác công nghệ để mở rộng chuỗi giá trị từ nhà máy, nghiên cứu sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) theo công nghệ Ethanol-to-Jet (ETJ) cùng methanol carbon thấp từ nguồn CO2 sinh học.

*Tạo cơ chế tài chính hỗ trợ phát triển chuỗi nhiên liệu trong nước

Tại buổi làm việc với Bộ Công Thương đầu tháng 8 vừa qua, đại diện các nhà máy sản xuất Ethanol tại miền Trung cho biết các nhà máy đang đối mặt với một số khó khăn như đầu ra chưa ổn định do chủ yếu ký hợp đồng ngắn hạn với các doanh nghiệp pha chế xăng sinh học; phải cạnh tranh với Ethanol nhập khẩu…khiến doanh nghiệp khó chủ động kế hoạch sản xuất, thu mua nguyên liệu cũng như đầu tư nâng cấp thiết bị.

Để tháo gỡ khó khăn này, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) Nguyễn Việt Thắng-đơn vị đang phối trộn xăng sinh học E10 kiến nghị có cơ chế tài chính phù hợp, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn phục vụ sản xuất; ưu tiên sử dụng Ethanol sản xuất trong nước bằng cách ký hợp đồng bao tiêu dài hạn, có cơ chế thanh toán trước theo quý phù hợp với công suất khả dụng của nhà máy sản xuất Ethanol.

Cùng quan điểm này, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho rằng ngành công nghiệp sản xuất Ethanol gắn trực tiếp với an ninh năng lượng quốc gia, vì vậy cần xem xét hạn chế xuất khẩu sắn lát khô để chuyển sang các sản phẩm chế biến sâu, qua đó giữ nguồn nguyên liệu cho sản xuất Ethanol trong nước.

Nhà máy Nhiên liệu sinh học Dung Quất. Ảnh: BSR

Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, quá trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ đồng bộ. Những vướng mắc về đầu tư, tiếp cận vốn, nguồn nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh với hàng nhập khẩu, cơ chế hợp đồng dài hạn cũng như các vấn đề khoa học công nghệ cần được doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý cùng nhìn nhận thẳng thắn, chủ động đề xuất giải pháp. Bộ Công Thương sẽ tiếp tục đóng vai trò đầu mối, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nhiên liệu sinh học theo hướng đồng bộ, minh bạch, phù hợp với thực tiễn.

Trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ doanh nghiệp và địa phương, Bộ sẽ nghiên cứu tổ chức hội thảo chuyên đề để thống nhất giải pháp, đồng thời tham mưu xây dựng hành lang pháp lý thuận lợi; tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao sức cạnh tranh của nhiên liệu sinh học trong nước; góp phần thực hiện mục tiêu chuyển dịch năng lượng, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tuy nhiên, để thị trường xăng sinh học phát triển bền vững, các doanh nghiệp không chỉ tập trung nâng công suất mà cần chủ động rà soát toàn diện năng lực sản xuất, xây dựng chuỗi cung ứng Ethanol ổn định từ vùng nguyên liệu, sản xuất, logistics đến tiêu thụ. Bên cạnh đó, việc tăng cường liên kết giữa các nhà máy sản xuất Ethanol và các doanh nghiệp đầu mối kinh doanh xăng dầu, các đơn vị phối trộn và các địa phương là rất quan trọng nhằm bảo đảm nguồn cung Ethanol lâu dài cho thị trường trong nước, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh.

Có thể thấy, việc sớm xây dựng một “hệ sinh thái” chính sách đồng bộ, cơ chế đủ hấp dẫn cho đầu tư sản xuất dài hạn và tạo thị trường ổn định sẽ là động lực quan trọng để nâng cao năng lực sản xuất Ethanol trong nước, từ đó bảo đảm nguồn cung đầu vào cho phối trộn xăng sinh học, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia./.


Tin liên quan

Bước tiến mới trong chiến lược phát triển năng lượng sạch

Việt Nam đã chính thức sử dụng xăng sinh học E10 trên toàn quốc, đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược phát triển năng lượng sạch. Những lo ngại về độ bền động cơ, mức tiêu hao nhiên liệu hay khả năng tương thích với phương tiện đã được các chuyên gia và nhà sản xuất giải đáp.

“Lá chắn” an ninh năng lượng quốc gia cần được tạo bởi nhiều lớp

Tại Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030 mức dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập ròng; đồng thời xây dựng hệ thống kho dự trữ dầu thô, xăng dầu quốc gia phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và an ninh năng lượng quốc gia, cả trên đất liền và trên biển.

Tin cùng chuyên mục

Tiếp thêm động lực và niềm tin cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Ngày 2/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, đánh dấu bước chuyển quan trọng sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài "là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia".

Hợp tác giáo dục Việt Nam – Australia hướng tới giai đoạn mới

Từ một trong những lĩnh vực đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam – Australia, hợp tác giáo dục đang đứng trước cơ hội bước sang giai đoạn mới, không chỉ dừng ở việc đưa sinh viên Việt Nam sang Australia học tập mà hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ và giải quyết những bài toán thực tiễn của nền kinh tế. Triển vọng này được thể hiện rõ tại Diễn đàn Khoa học - Công nghệ, Đổi mới sáng tạo, Giáo dục – Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam – Australia (Tech Connect), diễn ra ngày 10/8 tại Đại học Công nghệ Sydney (UTS) trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia.

Cách làm sáng tạo áp dụng Nghị quyết vào thực tiễn công việc

Từ phim ngắn, infographic, sản phẩm truyền thông số đến sân khấu hóa, những nội dung của nghị quyết được chuyển tải bằng nhiều hình thức gần gũi, sinh động. Hội thi “Báo cáo viên - tuyên truyền viên sáng tạo” năm 2026 tại Vietcombank Sở Giao dịch cho thấy một cách làm mới trong tuyên truyền, học tập nghị quyết, hướng tới mục tiêu quan trọng hơn: từ hiểu, nhớ đến vận dụng nghị quyết vào thực tiễn công việc.

Nghị quyết 57: Chuyển nguồn lực thành kết quả cụ thể

Năm 2026, khoảng 95.000 tỷ đồng, tương đương 3% tổng chi ngân sách nhà nước, được dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Khi nguồn lực đã được tăng cường, yêu cầu đặt ra trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW là khắc phục điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện, đưa đầu tư thành công nghệ, sản phẩm và những kết quả cụ thể.

Biến tinh thần “dám nghĩ, dám làm” thành hành động thực tiễn

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 với tinh thần “ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ” đang tạo luồng sinh khí mới tại các cấp chính quyền ở TP. Hồ Chí Minh. Bằng sự cám kết đồng hành từ cấp ủy và chủ động của cán bộ, những rào cản tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm đang dần được tháo gỡ, chuyển hóa thành các mô hình hành chính gần dân, sát dân, mang lại hiệu quả thiết thực.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Tạo động lực phát triển kinh tế số

Tỉnh Đồng Tháp đã và đang triển khai sâu rộng Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo động lực phát triển kinh tế của địa phương.