Thu hút doanh nghiệp làm hạt nhân cho chăn nuôi công nghệ cao
Thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Vĩnh Long phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, quy mô trang trại, an toàn sinh học, thân thiện với môi trường; đồng thời, thúc đẩy liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ và khuyến khích người dân khai thác lợi thế, điều kiện sản xuất đặc thù để nâng cao hiệu quả.


Ảnh minh họa: TTXVN

Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng đàn gia súc đạt khoảng 1,785 triệu con; trong đó, có 520.000 con bò, 1,02 triệu con lợn và 245.000 con dê; đàn gia cầm khoảng 27,5 triệu con. Tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 430.000 tấn, sản lượng trứng khoảng 518 triệu quả và sữa tươi khoảng 5,25 triệu lít. Chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAHP sẽ được tập trung tại các xã vùng ngọt và vùng ngọt hóa của tỉnh.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Lê Văn Đông cho biết, để thực hiện mục tiêu này, ngành tiếp tục tham mưu tỉnh xây dựng các quy định về mật độ chăn nuôi, vùng nuôi và Đề án phát triển chăn nuôi đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 theo hướng hiện đại, an toàn, hiệu quả và bền vững. Cùng với đó, tỉnh khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng con giống, năng suất vật nuôi; kiểm soát thức ăn, thuốc thú y, dịch bệnh, an toàn thực phẩm và xử lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Theo ngành nông nghiệp và môi trường tỉnh Vĩnh Long, hiện đàn lợn của tỉnh có hơn 767.000 con, đàn bò hơn 422.500 con, đàn dê 218.000 con và đàn gia cầm gần 21,8 triệu con. Một trong những chuyển biến rõ nét là chăn nuôi của tỉnh đang từng bước chuyển sang quy mô trang trại. Toàn tỉnh hiện có 3.828 trại, tăng gần 26% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, 38 trang trại quy mô lớn, 596 trang trại quy mô vừa và 3.194 trang trại quy mô nhỏ. Tỉnh đã cấp 38 giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với trang trại quy mô lớn, gồm 21 trại gà và 17 trại lợn; đồng thời, thực hiện giám sát, kiểm tra định kỳ theo quy định.

Dù chăn nuôi trang trại ngày càng phát triển, sản xuất của tỉnh vẫn chủ yếu do các cơ sở tư nhân đảm nhiệm. Trong tổng số 3.828 trại có hơn 94% chăn nuôi theo hình thức tư nhân; phần lớn người nuôi tự tìm đầu ra, sản phẩm tiêu thụ qua thương lái, chưa có hợp đồng liên kết ổn định nên còn chịu nhiều tác động khi giá cả thị trường biến động.

Trong khi đó, chăn nuôi gia công đang cho thấy khả năng hình thành chuỗi liên kết tương đối rõ. Hiện, tỉnh có 225 trại trên địa bàn thực hiện chăn nuôi gia công cho 10 doanh nghiệp gồm: CP, Emivest, Greenfeed, Vietlight, USFeed, Vietsun, Vietswan, CJ Vina, Tuấn Phát và Japfa.

Theo mô hình này, doanh nghiệp cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y, vaccine và hướng dẫn kỹ thuật; người chăn nuôi đầu tư chuồng trại, trang thiết bị và nhân công. Sau mỗi lứa nuôi, sản phẩm được doanh nghiệp thu mua, đưa vào chuỗi giết mổ, chế biến và tiêu thụ. Mô hình giúp người chăn nuôi giảm áp lực tìm đầu ra; đồng thời, tiếp cận quy trình kỹ thuật và kiểm soát dịch bệnh chặt chẽ hơn. Việc doanh nghiệp tham gia từ con giống, thức ăn, chăm sóc đến thu mua cũng tạo điều kiện kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và từng bước hình thành chuỗi chăn nuôi khép kín.

Theo nhận định của Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Vĩnh Long, một trong những yêu cầu quan trọng để phát triển chăn nuôi bền vững là phải tạo quỹ đất phù hợp cho chăn nuôi trang trại, tháo gỡ khó khăn trong chuyển đổi mục đích sử dụng đất và xác định rõ vùng chăn nuôi tại cơ sở. Trên cơ sở đó, tỉnh có thể thu hút doanh nghiệp làm “hạt nhân”, dẫn dắt người dân tham gia chuỗi liên kết và phát triển các mô hình ứng dụng công nghệ cao.

Bên cạnh phát triển chăn nuôi tập trung, liên kết với doanh nghiệp, việc lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện từng địa bàn cũng đang giúp nhiều dân trên địa bàn tỉnh nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

Đơn cử như mô hình nuôi vịt chạy đồng của nông dân tỉnh Vĩnh Long. Gia đình bà Huỳnh Thị Mỹ Phương, xã Nhơn Phú có hơn 30 năm gắn bó với nghề nuôi vịt chạy đồng lấy trứng. Hiện, gia đình duy trì đàn khoảng 2.000 con và thường xuyên tìm những cánh đồng vừa thu hoạch để đưa vịt đến chăn thả. Trong quá trình nuôi, việc phòng ngừa dịch bệnh luôn được gia đình chú trọng và tiêm vaccine phòng bệnh đầy đủ.

Theo bà Phương, tùy điều kiện từng khu vực, gia đình thuê ruộng sau thu hoạch mùa vụ với giá từ 300.000-1.000.000 đồng/ha. Mỗi đợt thuê khoảng 50-60 ha, chi phí khoảng 15-30 triệu đồng và một năm có thể di chuyển qua 7-8 cánh đồng. Sau khi ruộng lúa thu hoạch xong, vịt được chăn thả trên đồng từ 10-30 ngày, tùy thời gian tái sản xuất của chủ ruộng.

Việc tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trên đồng ruộng giúp gia đình giảm đáng kể chi phí. Khi có đồng cho vịt kiếm ăn, đàn 2.000 con chỉ sử dụng khoảng 2 bao thức ăn/ngày, mỗi bao khoảng 260.000 đồng. Trong thời gian không tìm được đồng phù hợp, lượng thức ăn tăng lên 5-6 bao/ngày, tương đương khoảng 1,3-1,5 triệu đồng/ngày.

Theo tính toán của bà Phương, mỗi ngày đàn vịt đẻ khoảng 1.200 quả trứng, sau khi trừ các khoản chi phí, lợi nhuận có thể đạt 500.000-600.000 đồng/ngày khi giá trứng ở mức 2.700 đồng/quả. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào chi phí thức ăn, thuê đồng, tình hình dịch bệnh và giá trứng thùy thời điểm.

Từ thực tế sản xuất cho thấy, bên cạnh xu hướng phát triển chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại và liên kết với doanh nghiệp, việc khai thác hợp lý lợi thế của từng vùng, từng phương thức sản xuất vẫn có ý nghĩa quan trọng. Những mô hình như nuôi vịt chạy đồng vừa tận dụng nguồn thức ăn trên đồng ruộng, giảm chi phí đầu vào, vừa tạo thêm sinh kế cho người dân. Đây cũng là cơ sở để ngành chăn nuôi phát triển theo hướng bền vững, gắn sản xuất với thị trường và nâng cao giá trị trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh./.


Tin liên quan

Đa dạng hình thức quảng bá đưa thương hiệu nhãn lồng vươn xa

Lễ hội và xúc tiến thương mại nhãn lồng Hưng Yên diễn ra từ ngày 7 đến ngày 9/8 là sự kiện văn hóa, du lịch và xúc tiến thương mại có ý nghĩa quan trọng trong hành trình xây dựng Hưng Yên trở thành tỉnh phát triển nhanh, bền vững, có nền kinh tế năng động trên cơ sở phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và lợi thế nông nghiệp đặc trưng.

Tin cùng chuyên mục

Định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Phần 4 và hết)

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ ra định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu, sửa đổi bổ sung Điều lệ Đảng gồm: Những vấn đề cơ bản về Đảng, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và mối quan hệ với Nhân dân; Về hệ thống tổ chức, phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và kiểm soát quyền lực; Về chuyển đổi số, các lĩnh vực đặc thù và kỹ thuật của Điều lệ Đảng.  

Định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Phần 3)

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ ra định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu, sửa đổi bổ sung Điều lệ Đảng gồm: Những vấn đề cơ bản về Đảng, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và mối quan hệ với Nhân dân; Về hệ thống tổ chức, phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và kiểm soát quyền lực; Về chuyển đổi số, các lĩnh vực đặc thù và kỹ thuật của Điều lệ Đảng.  

Định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Phần 2)

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ ra định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu, sửa đổi bổ sung Điều lệ Đảng gồm: Những vấn đề cơ bản về Đảng, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và mối quan hệ với Nhân dân; Về hệ thống tổ chức, phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và kiểm soát quyền lực; Về chuyển đổi số, các lĩnh vực đặc thù và kỹ thuật của Điều lệ Đảng.  

Định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Phần 1)

Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Thông báo số 140-TB/VPTW ngày 8/8/2026 thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Thông báo chỉ rõ định hướng một số nội dung tập trung tổng kết, nghiên cứu, sửa đổi bổ sung Điều lệ Đảng gồm: Những vấn đề cơ bản về Đảng, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng và mối quan hệ với Nhân dân; Về hệ thống tổ chức, phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình mới; Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng và kiểm soát quyền lực; Về chuyển đổi số, các lĩnh vực đặc thù và kỹ thuật của Điều lệ Đảng.

Việt Nam tiếp tục chinh phục trái tim du khách Nga

Năm 2025, Việt Nam đã đón lượng kỷ lục khách du lịch Nga. Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Việt Nam (VNAT), trong năm ngoái đã có gần 690.000 lượt du khách Nga tới Việt Nam và trong nửa đầu năm nay con số này đã là hơn 742.000 lượt, đưa Nga đứng thứ ba trong danh sách về số lượng du khách đến Việt Nam, chỉ sau Trung Quốc và Hàn Quốc.