| Trái tim của Bác Hồ luôn hướng về miền Nam ruột thịt |
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Dù sống và làm việc tại Hà Nội, trái tim của Bác Hồ luôn hướng về miền Nam ruột thịt. Người thường xuyên theo dõi từng diễn biến của chiến trường, quan tâm đến đời sống của đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đau đáu một niềm mong mỏi đất nước sớm thống nhất.
Nhớ thương miền Nam bao nhiêu thì khi gặp quân dân miền Nam ra thăm, Bác lại vui mừng bấy nhiêu. Năm 1962, Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra miền Bắc thăm và tặng quà Bác. Bác đã đặt bàn tay lên ngực trái rồi cảm động nói: “Bác chẳng có gì tặng lại cả, chỉ có cái này: Miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim tôi.”
Tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa II (5/1963), khi được tin Quốc hội có ý định tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của nước ta, Người đã cảm ơn Quốc hội và nói: “Gần 20 năm trường, hết đấu tranh chống thực dân Pháp, lại đấu tranh chóng Mỹ - Diệm, đồng bào miền Nam thật là xứng đáng với danh hiệu thành đồng Tổ quốc và xứng được tặng thưởng Huân chương cao quý này. Vì những lẽ đó tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà, Quốc hội cho phép đồng bào miền Nam trao tặng cho tôi Huân chương cao quý này. Như vậy toàn dân ta sẽ sung sướng vui mừng.”
Nǎm 1965, gặp đoàn anh hùng dũng sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc, Người xúc động nói: “Bác mong các cháu lắm, Bác nhớ đồng bào miền Nam lắm”. Bác hỏi chuyện chiến trường và được biết tâm tư của đồng bào cán bộ chiến sỹ miền Nam “không sợ gian khổ, không sợ chết mà chỉ sợ một điều… sau này không được nhìn thấy Bác”. Nghe xong, Bác trào dâng nước mắt, khóc vì thương nhớ miền Nam.
Năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn ác liệt, tiếp nhà báo Marta Rojas (Báo Granma - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Cuba), Bác từng nói những câu xúc động: “Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.”
Đáp lại tình yêu thương của Bác, nhân dân miền Nam luôn dành cho Người niềm kính yêu vô hạn. Trong những năm kháng chiến, chân dung Bác được đồng bào cất giữ như một báu vật. Nhiều gia đình, nhiều cơ sở cách mạng bí mật lập bàn thờ Bác, treo ảnh Bác giữa rừng sâu, trong địa đạo hay trong những căn hầm bí mật. Mỗi khi nhắc đến Bác Hồ, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam đều xem đó là nguồn động viên to lớn để vượt qua gian khổ, tiếp tục chiến đấu.
Sau khi Bác qua đời vào ngày 2/9/1969, nỗi đau bao trùm khắp cả nước. Ở miền Nam, dù đang trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhiều nơi vẫn tổ chức lễ truy điệu Bác ngay giữa vùng giải phóng hoặc trong điều kiện bí mật. Có những chiến sĩ trước giờ xuất kích đã hứa với Bác sẽ chiến đấu đến cùng để hoàn thành tâm nguyện thống nhất đất nước của Người.
6 năm sau khi Người qua đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất. Ngày 30/4/1975, cả dân tộc Việt Nam đã cùng nhau hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” trong niềm xúc động nghẹn ngào.
Sau ngày đất nước thống nhất, để ghi nhớ công lao to lớn của Người, thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là sự tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước đối với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
Chặng đường 50 năm chính thức vinh dự mang Bác, Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, nghĩa tình, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong, tìm ra những mô hình phát triển mới, đóng góp nhiều kinh nghiệm thực tiễn quan trọng trong công cuộc đổi mới và đang cùng cả nước vững bước tiến mạnh vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
