Từ Đổi mới đến khát vọng hùng cường - Bài 4: Kiến tạo động lực tăng trưởng mới
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu quan trọng, tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế.
Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam: Đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội vào năm 2045

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt những thành tựu quan trọng, tạo dựng cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế. Nhưng khi những lợi thế truyền thống dần tới giới hạn, Việt Nam đứng trước một bước ngoặt mới: không chỉ “đổi mới để phát triển” mà phải đổi mới chính mô hình phát triển để tạo ra những động lực tăng trưởng mới, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh, tự cường và thịnh vượng.

Phóng viên TTXVN đã có phỏng vấn ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương để làm rõ hơn những nội dung này.

Phóng viên (PV): Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, theo ông, những thành tựu nào có ý nghĩa nền tảng và mang tính bước ngoặt nhất, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam hiện nay?

Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Thành tựu 40 năm Đổi mới đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đánh giá và có thể khái quát ở những điểm rất cơ bản sau đây. Trước hết là những thành tựu về phát triển kinh tế. Kinh tế Việt Nam từ một nước nghèo lạc hậu, mất cân đối nay đã trở thành quốc gia thuộc nhóm thu nhập trung bình cao, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện; quy mô nền kinh tế thuộc nhóm có quy mô cao trong các quốc gia trên thế giới. Thứ hai là các chỉ tiêu, chỉ số về phát triển bền vững, phát triển con người, phát triển xã hội của Việt Nam thuộc nhóm tốp cao so với các quốc gia có cùng trình độ phát triển kinh tế. 

Thứ ba, vị thế quốc gia, vị thế của đất nước trên trường quốc tế ngày càng được cải thiện khi chúng ta có 17 FTA thế hệ mới, có hàng loạt các quốc gia là đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện. Đồng thời Việt Nam cũng đã chuyển từ hội nhập quốc tế, đối ngoại sang chủ động, tham gia sâu hơn, kiến tạo các quy định, kiến tạo môi trường hội nhập mới. Một thành tựu cũng rất cần phải nhấn mạnh, đó là vấn đề quốc phòng, an ninh luôn được bảo đảm vững chắc và xã hội, con người ngày càng được bảo đảm, hướng đến một xã hội là kỷ cương văn minh, quản lý chặt chẽ về pháp luật.

PV: Theo ông, những động lực tăng trưởng truyền thống đang đứng trước những giới hạn nào và vì sao Việt Nam cần đổi mới mô hình phát triển?

Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Tôi cho rằng, 40 năm qua, mô hình tăng trưởng đã đem lại những thành tựu nổi bật, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào như vốn, nhân công giá rẻ. Nền kinh tế còn phụ thuộc vào xuất khẩu và khu vực FDI, trong khi năng lực sản xuất trong nước, liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Điều đó ảnh hưởng đến nội lực, giá trị gia tăng và khả năng tự chủ chiến lược của nền kinh tế.  

Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển theo hai hướng. Một là hiện đại hóa các động lực truyền thống như xuất khẩu, đầu tư, tiêu dùng, hướng tới các ngành có giá trị gia tăng cao hơn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hai là tạo ra các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực phát triển chủ yếu; dữ liệu trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đồng thời, cần phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp công nghệ cao, các ngành công nghiệp chiến lược và những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. 

PV: Nhìn lại 40 năm Đổi mới, đâu là bài học quan trọng nhất cho chặng đường phát triển phía trước, thưa ông?

Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Theo tôi, bài học trước hết là đổi mới phải luôn xuất phát từ thực tiễn, coi thực tiễn là cơ sở để thay đổi những cơ chế, mô hình, chính sách không còn phù hợp.Thứ hai, trong mọi chủ trương, chính sách phải đặt con người ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Người dân và doanh nghiệp phải là trung tâm trong quá trình triển khai chính sách.Thứ ba, phải chủ động hội nhập quốc tế, chuyển từ thích ứng và tham gia sang chủ động kiến tạo các động lực cho tăng trưởng bền vững.Và cuối cùng, phải coi trọng yếu tố bền vững: Phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; phát triển nhanh nhưng phải bền vững, lấy ổn định để phát triển. 

PV: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 đặt mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao là một mục tiêu rất lớn. Vậy theo ông, những điều kiện tiên quyết nào để biến khát vọng thịnh vượng thành hiện thực?

Phó Trưởng Ban Nguyễn Đức Hiển: Theo tôi có 3 điều kiện quan trọng để biến khát vọng thịnh vượng thành hiện thực. Một là, Việt Nam phải duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Gần đây, Trung ương đã đặt ra yêu cầu là trong 5 năm tới, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và sau đó từ giai đoạn 2031 đến 2045 phải tiếp tục duy trì tăng trưởng cao. Đây chính là yêu cầu để đạt được mục tiêu về thu nhập bình quân đầu người theo xếp hạng của nước phát triển. Hai là, dù tăng trưởng kinh tế cao những phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô đi đôi với phát triển nhanh, bền vững.

Ngoài ra, mô hình phát triển kinh tế mới cần có sự thay đổi căn bản, chuyển dịch sang chất lượng cao hơn. Tôi cho rằng, mô hình phát triển trong giai đoạn tới phải là mô hình hiệu quả, sáng tạo, xanh, hội nhập. Nhưng không chỉ mô hình kinh tế mà phải xác định cả các mô hình về phát triển xã hội, văn hóa, con người, đối ngoại, hội nhập quốc tế, quốc phòng, an ninh và quản trị quốc gia. Yếu tố thứ ba rất quan trọng là vấn đề tập trung tạo dựng, phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện. Nghị quyết 19-NQ/TW cũng đặt yêu cầu làm sao phát triển đồng bộ văn hóa, con người trong tổng thể mô hình phát triển của đất nước.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bài cuối: Định vị mô hình phát triển

Tin liên quan

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài cuối - Những "điểm chạm" nối hai cực công nghiệp

Thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, các địa phương đều đứng trước cùng một yêu cầu: làm tốt nhất những gì có thể để đón dòng vốn ngoại, đồng thời biến nguồn lực ấy thành công nghệ, việc làm, thu nhập, chuỗi liên kết và những động lực tăng trưởng mới. Khi từng địa phương cùng nâng chuẩn môi trường đầu tư, cùng tạo dựng hệ sinh thái đủ sức giữ chân và phát triển doanh nghiệp, dòng vốn FDI sẽ không chỉ là những con số đăng ký, mà trở thành nguồn lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển nhanh, bền vững hơn. Tuy nhiên, để những mục tiêu trên thành hiện thực, cấp thẩm quyền cũng cần xem xét hóa giải "điểm nghẽn", tạo cơ chế đặc thù, đủ mạnh để chính sách phát huy hiệu quả tốt nhất tại mỗi địa phương.

TP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 1: Đi đầu kiến tạo thể chế phát triển

Sau 40 năm Đổi mới (1986–2026), TP. Hồ Chí Minh đã chủ động đi đầu trong tháo gỡ những rào cản của cơ chế cũ để vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế lớn, hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Với GRDP hơn 115 tỷ USD, chiếm gần 24,4% GDP cả nước, thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển với không gian kinh tế rộng hơn, kết nối tài chính, công nghệ cao, công nghiệp, logistics và cảng biển. Khi các động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, TP. Hồ Chí Minh đang tìm kiếm một chu kỳ tăng trưởng mới bằng cách đổi mới thể chế, kiến tạo những mô hình kinh tế mới và nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo.

TP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 2: Định hình những cực tăng trưởng mới

Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán của TP. Hồ Chí Minh không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà còn phải tổ chức và kết nối chúng hiệu quả hơn. Trung tâm Tài chính quốc tế được kỳ vọng mở rộng các kênh huy động và phân bổ vốn, trong khi Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ tạo thêm dư địa cho sản xuất, thương mại và logistics quốc tế. Sự kết nối giữa dòng vốn và dòng hàng, cùng các cơ chế mới, đang hình thành những cấu phần quan trọng trong mô hình tăng trưởng của thành phố.

TP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài cuối: Nâng chất lượng tăng trưởng từ công nghệ và đổi mới sáng tạo

Từ nền tảng Khu Công nghệ cao và hệ sinh thái công nghệ đã hình thành, TP. Hồ Chí Minh đang hướng tới các lĩnh vực công nghệ chiến lược như: AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, tự động hóa, công nghệ sinh học và năng lượng xanh. Mục tiêu không chỉ là thu hút thêm vốn và dự án, mà từng bước hình thành năng lực công nghệ, nâng năng suất và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.

Tin cùng chuyên mục

Từ Đổi mới đến khát vọng hùng cường - Bài 1: Thành tựu 40 năm và bước chuyển tư duy

40 năm Đổi mới đã làm thay đổi căn bản diện mạo và vị thế Việt Nam. Nhưng thành tựu của hôm qua không phải điểm dừng, mà là nền tảng để đất nước bước vào một chặng đường mới. Phát huy những thành quả đã có, đổi mới mô hình phát triển, tạo động lực mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tôi yêu Tổ quốc tôi

81 năm trước, tại Quảng trường Ba Đình, một dân tộc đã tuyên bố với thế giới quyền được sống trong độc lập, tự do. 80 năm sau, cũng tại nơi ấy, một khát vọng mới được gọi tên: Việt Nam hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc vào năm 2045.

Ấn tượng Việt Nam sau gần 40 năm gắn bó của vị bác sĩ người Pháp

Gần 40 năm gắn bó với Việt Nam trong các chương trình hợp tác y tế, Bác sĩ Gildas Tréguier - Tổng Thư ký Liên đoàn Y tế Pháp-Việt (FSFV) - đã có cơ hội chứng kiến những bước chuyển mình sâu sắc của đất nước, từ những năm đầu Đổi mới, mở cửa với thế giới đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ hiện nay.

Chùa Tà Pạ nổi bật giữa mây trời vùng Bảy Núi

Tọa lạc trên đỉnh núi Tà Pạ, chùa Tà Pạ ở xã Tri Tôn, tỉnh An Giang nổi bật với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer độc đáo, trong đó chánh điện được nâng đỡ bởi hàng trăm cây cột cao giữa lưng chừng núi. Cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của vùng Bảy Núi, ngôi chùa trở thành điểm đến thu hút du khách khi đến An Giang.

Tổ quốc, ta yêu Người mãi mãi!

Tình yêu Tổ quốc không chỉ là niềm xúc động khi nhìn lá cờ đỏ tung bay trong ngày Quốc khánh. Tình yêu ấy còn nằm trong cách mỗi người làm tốt công việc của mình, sống có trách nhiệm.

Tết Độc lập trên vùng "đất lửa"

Tròn 81 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Quảng Trị - vùng đất gánh chịu nhiều đau thương mất mát, chứng kiến bao cảnh tàn khốc và hủy diệt của chiến tranh giờ đang vươn mình mạnh mẽ.