![]() |
| Quảng Trị là một trong các tỉnh được hưởng lợi từ Thỏa thuận giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). |
| Ảnh minh họa |
Giảm phát thải khí nhà kính đang trở thành yêu cầu bắt buộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tại Quảng Trị, cùng với việc thúc đẩy công nghiệp phát triển theo hướng xanh và tiết kiệm năng lượng, tỉnh đang từng bước hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp carbon thấp, hướng tới tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cho biết, nhằm hướng tới mục tiêu tham gia thị trường carbon tại Việt Nam, sở đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch hành động số 2065/KH-UBND ngày 03/11/2022 về giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh.
Theo kế hoạch này, Quảng Trị đóng góp vào mục tiêu chung của cả nước theo Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 05/8/2022 về Kế hoạch hành động giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030, bảo đảm tổng lượng phát thải khí mê-tan không vượt quá 77,9 triệu tấn CO2 tương đương, giảm ít nhất 30% so với năm 2020. Trong số đó, phát thải khí mê-tan trong trồng trọt không vượt quá 30,7 triệu tấn CO2 tương đương, phát thải trong chăn nuôi không vượt quá 15,2 triệu tấn CO2 tương đương.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Kế hoạch hành động, triển khai Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050”. Tỉnh Quảng Trị đã chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, đồng thời tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, Quảng Trị là một trong các tỉnh được hưởng lợi từ Thỏa thuận giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ (ERPA). Trong giai đoạn 2023–2025, tỉnh được phân bổ hơn 364 tỷ đồng từ nguồn ERPA để chi trả cho các đối tượng hưởng lợi. Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị đã thực hiện chi trả hơn 347 tỷ đồng, đạt trên 95% kế hoạch cho các chủ rừng.
Ông Trần Quốc Tuấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị đánh giá, sau ba năm thí điểm, ERPA tại Quảng Trị được thực hiện công khai, minh bạch, đúng đối tượng và đúng quy định. Chương trình đã góp phần duy trì ổn định diện tích rừng tự nhiên, bảo vệ hệ sinh thái, giữ vững tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh ở mức 61,47%; đồng thời đóng góp thiết thực vào việc thực hiện các cam kết giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.
Cùng với việc chi trả tài chính, công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn được triển khai thường xuyên, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong bảo vệ rừng và thực hiện các chính sách tài chính carbon. Các khoản chi trả từ ERPA đã mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sống gần rừng; hỗ trợ công tác tuần tra, bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế và nâng cao năng lực cộng đồng.
Từ những kết quả đạt được, tỉnh Quảng Trị đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các chính sách chi trả cho hấp thụ và lưu giữ carbon rừng trong thời gian tới. Qua đó huy động hiệu quả hơn nguồn lực tài chính cho bảo vệ và phát triển rừng, tạo nền tảng cho việc tham gia sâu hơn vào thị trường carbon trong tương lai.
Ông Trần Quốc Tuấn nhấn mạnh, thị trường tín chỉ carbon không chỉ là việc bán “lượng phát thải giảm được” mà còn là đòn bẩy nâng cao giá trị nông sản địa phương. Khi tham gia các mô hình tín chỉ carbon, giá trị của nông sản không chỉ được đo bằng sản lượng hay giá bán mà còn nằm ở quy trình sản xuất ít phát thải, thân thiện với môi trường, bảo vệ đất và hệ sinh thái. Thông qua đó, nông sản địa phương có điều kiện tiếp cận các thị trường cao cấp, đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh và bền vững.
Đối với người nông dân, ông Trần Quốc Tuấn cho rằng, lợi ích từ việc bán tín chỉ carbon có thể bù đắp chi phí chuyển đổi kỹ thuật, giảm áp lực phụ thuộc vào biến động giá nông sản, đồng thời tạo thêm nguồn thu ổn định bên cạnh thu nhập từ sản xuất. Quan trọng hơn, mô hình này giúp người dân thay đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường”; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn./.

