Xây dựng cơ sở dữ liệu: Nền tảng chuyển đổi số nông nghiệp và môi trường
Việc hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, thống nhất có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng cho xây dựng nông nghiệp và môi trường thông minh, hiệu quả và hiện đại.
Ngành nông nghiệp và môi trường sau hợp nhất là một trong những ngành có quy mô dữ liệu lớn và đa dạng nhất. Ảnh minh họa: TTXVN

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, xây dựng và khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu được xác định là “hạ tầng mềm” then chốt, quyết định năng lực quản lý, điều hành và phát triển của mỗi ngành, lĩnh vực. Đối với ngành nông nghiệp và môi trường – lĩnh vực gắn trực tiếp với tài nguyên, sinh kế của hàng chục triệu người dân và yêu cầu phát triển bền vững, việc hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ, thống nhất càng có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng cho xây dựng nông nghiệp và môi trường thông minh, hiệu quả và hiện đại.

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định chuyển đổi số, phát triển dữ liệu ngành là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trọng tâm xuyên suốt là triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng các nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ có liên quan.

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung phát triển hạ tầng số, nền tảng số và hệ thống dữ liệu ngành nông nghiệp và môi trường theo hướng tập trung, thống nhất, an toàn; thúc đẩy kết nối, chia sẻ, liên thông dữ liệu giữa các lĩnh vực trong ngành và với Trung tâm dữ liệu quốc gia. Quản lý, chỉ đạo, điều hành từng bước chuyển sang dựa trên dữ liệu số, qua đó nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chất lượng dịch vụ công, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.Ngành nông nghiệp và môi trường sau hợp nhất là một trong những ngành có quy mô dữ liệu lớn và đa dạng nhất.

Hệ thống dữ liệu bao gồm dữ liệu điều tra cơ bản về đất đai, địa chất, khoáng sản, tài nguyên nước, bản đồ, viễn thám, môi trường, khí tượng thủy văn; cùng các dữ liệu phục vụ trực tiếp cho điều hành, phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng – an ninh như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, nghề cá, đê điều, phòng chống thiên tai.Theo Cục Chuyển đổi số, hiện toàn ngành có 115 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành; trong đó có 10 cơ sở dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành; 3 cơ sở dữ liệu phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp và 102 cơ sở dữ liệu chuyên ngành nông nghiệp và môi trường. Ngành đã có 1 cơ sở dữ liệu quốc gia là Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; đồng thời đang đề xuất bổ sung Cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu.

Nông nghiệp thông minh là chìa khoá phát triển trong giai đoạn tới. Ảnh: Công Mạo-TTXVN

Nhiều cơ sở dữ liệu khác dù chưa nằm trong danh mục quốc gia nhưng có quy mô, phạm vi toàn quốc như dữ liệu tài nguyên nước, nền địa lý, môi trường, khí tượng thủy văn, giống cây trồng, nghề cá, quản lý đê điều, giảm nghèo…Thực tiễn cho thấy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đã có những kết quả bước đầu quan trọng. Ngành nông nghiệp và môi trường đã hoàn thành xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia; đồng thời triển khai các điều kiện kỹ thuật để kết nối, đồng bộ dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Hệ thống quy định kỹ thuật cho các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành cũng cơ bản được ban hành, tạo khung chuẩn để xây dựng, hoàn thiện và chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương.Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định, xây dựng cơ sở dữ liệu không chỉ dừng ở việc “có dữ liệu”, mà quan trọng hơn là chất lượng và khả năng khai thác.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh: Không có dữ liệu thì không thể điều hành, quản lý. Chuyển đổi số là nhiệm vụ tất yếu để nâng cao hiệu lực quản lý, phục vụ người dân và xây dựng nền nông nghiệp thông minh. Cần tư duy theo phương châm: lấy dữ liệu làm nền tảng, lấy kết quả làm thước đo.Theo Thứ trưởng Võ Văn Hưng, ngành tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, chuyển đổi phương thức quản lý từ kinh nghiệm, thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu số. Thứ hai, hoàn thành các cơ sở dữ liệu dùng chung của ngành, bảo đảm tiêu chí “đúng – đủ – sạch – sống”, phản ánh kịp thời thực tiễn. Thứ ba, từng bước chuyển từ thao tác thủ công sang tự động hóa, ứng dụng công nghệ số trong giám sát, dự báo, ra quyết định.Theo các chuyên gian, khi dữ liệu được coi là tài nguyên và được khai thác hiệu quả, ngành nông nghiệp và môi trường không chỉ nâng cao năng lực quản lý, điều hành mà còn tạo động lực mới cho tăng trưởng bền vững.

Từ dự báo thị trường nông sản, quản lý đất đai, tài nguyên nước, kiểm soát nguồn thải, đến phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, mọi hoạt động sẽ ngày càng chính xác, kịp thời và minh bạch hơn. Đây chính là nền móng quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp thông minh, hiện đại, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.Chiến lược chuyển đổi số ngành nông nghiệp và môi trường đã xác định mục tiêu đến năm 2030 hoàn thiện các trung tâm dữ liệu ngành theo tiêu chuẩn xanh, hiện đại, dùng chung.

Trên nền tảng đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng tới phát triển các nền tảng, ứng dụng số dùng chung từ Trung ương đến địa phương, phục vụ toàn diện công tác quản lý nhà nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và doanh nghiệp.Mục tiêu đến năm 2030 là 100% cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành nông nghiệp và môi trường được xây dựng, chuẩn hóa, làm sạch; hình thành hệ sinh thái dữ liệu thống nhất, được quản lý và đồng bộ tập trung tại các trung tâm dữ liệu của Bộ. Các cơ sở dữ liệu trọng tâm, quan trọng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, tạo nền tảng cho quản trị và ra quyết định dựa trên dữ liệu./.

Tin liên quan

Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh– Bài 1: Nông dân đổi mới tư duy, mở lối làm giàu

Trong tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững, Nghị quyết 57-NQ/TW của Trung ương về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã mở ra cách tiếp cận mới cho ngành nông nghiệp, lấy khoa học công nghệ và dữ liệu số làm nền tảng tổ chức lại sản xuất. Tại Vĩnh Long, Nghị quyết 57-NQ/TW được cụ thể hóa bằng các mô hình sản xuất ngành hàng chủ lực, từ lúa chất lượng cao giảm phát thải đến phát triển vùng dừa hữu cơ theo hướng kinh tế tuần hoàn, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh – Bài 2: Sản xuất hữu cơ – hướng đi cho thủ phủ ngành dừa

Trong xu thế phát triển nông nghiệp bền vững gắn với kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, sản xuất hữu cơ trở thành hướng đi tất yếu của nhiều địa phương. Tại Vĩnh Long- “thủ phủ” dừa của Việt Nam với hơn 120.000 ha, chiếm 65% diện tích dừa cả nước, địa phương đang tập trung phát triển các vùng nguyên liệu dừa hữu cơ gắn với ứng dụng khoa học- công nghệ, chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị, nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho ngành hàng chủ lực này.

Nghị quyết 57-NQ/TW và nông nghiệp xanh - Bài cuối: Dịch chuyển rõ nét từ các trụ cột

Từ các mô hình nông nghiệp thông minh, sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải, đến phát triển dừa hữu cơ gắn với kinh tế tuần hoàn, có thể thấy nông nghiệp Vĩnh Long đang chuyển dịch rõ nét. Đây được xem là nền tảng quan trọng để địa phương tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng xanh, hiện đại, bền vững, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Trung ương về đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế – xã hội.

Toàn dân tham gia, toàn dân thụ hưởng thành quả phong trào thi đua

Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương, chủ trì phiên họp lần thứ 17 của Hội đồng, xem xét kế hoạch phát động phong trào thi đua “Đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh”, yêu cầu xây dựng chương trình hành động cụ thể, người đứng đầu tiên phong, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.

Tin cùng chuyên mục

Đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí về công tác đối ngoại năm 2025 vừa qua và thời gian tới, đặc biệt là việc thực hiện “sứ mệnh” mà Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng như Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định. Theo Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Việc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng lần đầu tiên khẳng định chính thức quan điểm chỉ đạo đối ngoại cùng với quốc phòng - an ninh lần đầu tiên được xác định là lĩnh vực “trọng yếu, thường xuyên” trong văn kiện Đại hội vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn đối với toàn ngành đối ngoại, ngoại giao. Điều này cũng khẳng định bước chuyển mới về tư duy chiến lược của Đảng ta. Sứ mệnh vẻ vang đó và yêu cầu cấp bách của đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi đối ngoại tiếp tục được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia, vào cuộc chủ động, tích cực của tất cả các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp.

Dấu ấn nổi bật của đối ngoại năm 2025

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời phỏng vấn báo chí về công tác đối ngoại năm 2025 vừa qua và thời gian tới, đặc biệt là việc thực hiện “sứ mệnh” mà Đại hội Đảng lần thứ XIV cũng như Nghị quyết 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới xác định. Theo Bộ trưởng Lê Hoài Trung: Nhìn lại có thể thấy môi trường quốc tế năm 2025 có đặc trưng là biến động, bất ổn, xung đột nổ ra ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực. Thậm chí có thể nói năm 2025 là năm biến động nhất trong nhiều năm trở lại đây như văn kiện Đại hội XIV đã nhận định “thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại”. Soi chiếu vào bối cảnh đó, có thể thấy dấu ấn nổi bật của đối ngoại năm 2025 là ta đã tranh thủ được thời cơ, hóa giải được thách thức, góp phần tạo cục diện đối ngoại mới cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Có thể nói đối ngoại trong năm 2025 đã phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh “giữ vững, duy trì môi trường hòa bình, ổn định; phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững; nâng cao đời sống của nhân dân, tất cả vì nhân dân”.

Kịch bản tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2026

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày 8/1/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Theo đó, Chính phủ đặt mục tiêu, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2026 tăng 10%, trong đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,7%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng 12%; ngành dịch vụ tăng 10% và ngành thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9%.

Lai Châu ứng dụng công nghệ số trong công tác bầu cử

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị trọng đại, có nhiều đổi mới quan trọng, hướng tới nâng cao tính dân chủ, minh bạch và hiệu quả, trong đó nổi bật là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bầu cử. Tại Lai Châu, nội dung này đang được Sở Nội vụ - Cơ quan thường trực về bầu cử của tỉnh tích cực triển khai.

Mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 của các tỉnh, TP trực thuộc Trung ương

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày 8/1/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Theo đó, Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên. Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 cũng đề ra chi tiết mục tiêu tăng trưởng GRDP đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.

Một số chỉ tiêu kinh tế năm 2026

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày 8/1/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Chính phủ đặt mục tiêu, tỷ trọng chi đầu tư phát triển/tổng chi ngân sách Nhà nước 35,5%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP khoảng 35%; tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15-16%; tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt 14,5%GDP; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) trong nhóm 4 quốc gia dẫn đầu của ASEAN…

Xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: Xác lập mô hình tăng trưởng mới: Kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Phát triển nhanh nhưng phải bền vững. Hoàn thiện quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch lĩnh vực, quy hoạch địa phương. Coi trọng chất lượng tăng trưởng trên cơ sở xác lập tiêu chuẩn kỹ thuật cao, phù hợp chất lượng quốc tế. Bảo đảm hạch toán kinh tế. Tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào năng suất, chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo; giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ. Phát triển đồng bộ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ theo chuỗi giá trị; hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, các trung tâm dịch vụ, du lịch chất lượng cao; các trung tâm logistics lớn gắn với các cảng biển, cảng hàng không trung chuyển quốc tế, các cửa khẩu quốc tế lớn, hiện đại, tự động hoá cao; nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và chuỗi cung ứng trong những lĩnh vực trọng yếu…