“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” - Quá trình tự soi, tự sửa thường xuyên
Trong tư tưởng và di sản đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” không chỉ là những chuẩn mực đạo đức dành cho mỗi con người, mà còn là những phẩm chất đặc biệt quan trọng đối với cán bộ, đảng viên. Người từng căn dặn: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
“Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” - Quá trình tự soi, tự sửa thường xuyên

Trong giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng cao, việc học tập và thực hành những chuẩn mực ấy càng có ý nghĩa thiết thực. Tinh thần Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” đặt ra yêu cầu không dừng ở học tập, nhận thức, mà phải chuyển mạnh sang thực hành, biến tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách của Người thành những việc làm cụ thể trong công tác và đời sống.

Vì thế, theo Chỉ thị 07-CT/TW cán bộ, đảng viên cần biến “cần” thành đúng giờ, đúng việc, đúng trách nhiệm; biến “kiệm” thành chống lãng phí trong từng cuộc họp, văn bản, chuyến công tác và từng khoản chi; biến “liêm” thành không nhận lợi ích không chính đáng, không lợi dụng vị trí công tác; biến “chính” thành trung thực, công tâm, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; và biến “chí công vô tư” thành việc luôn đặt nhiệm vụ chung lên trên lợi ích cá nhân.

Một người cán bộ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sẽ tạo dựng được niềm tin; nhiều cán bộ như vậy sẽ tạo nên một tập thể có kỷ luật, có trách nhiệm và có sức chiến đấu; từ đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, học, thực hành theo Bác về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” vì thế không phải là việc làm theo phong trào, cũng không chỉ thực hiện trong những đợt sinh hoạt chính trị. Đó phải là quá trình tự soi, tự sửa thường xuyên: hôm nay mình đã làm hết trách nhiệm chưa; đã tiết kiệm thời gian và nguồn lực chưa; có điều gì chưa thật sự trong sạch, minh bạch; khi giải quyết công việc có công bằng, khách quan không; và trong lựa chọn giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, mình đã đặt việc chung ở vị trí nào?

Thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, suy cho cùng, bắt đầu từ những điều rất cụ thể như thế. Khi mỗi cán bộ, đảng viên tự giác rèn mình bằng những việc nhỏ, làm đúng từ những việc hằng ngày, nói đi đôi với làm, đặt trách nhiệm lên trên quyền lợi và việc công lên trên việc tư, thì những chuẩn mực “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sẽ không còn là những lời giáo huấn chung chung mà trở thành sức mạnh đạo đức trong hoạt động của Đảng, của hệ thống chính trị.

Đó cũng chính là cách thiết thực để mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay học Bác, thực hành theo Bác và góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có năng lực, vừa có phẩm chất; thực sự là những người “công bộc” tận tụy của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới./.

Tin cùng chuyên mục

Những công trình tạo nên diện mạo Việt Nam 40 năm Đổi mới

40 năm Đổi mới không chỉ được đo bằng những con số về tăng trưởng, thu nhập hay xuất khẩu. Đổi mới còn hiện hữu trong từng dòng điện, cây cầu, tuyến đường, nhà máy, cảng biển và những không gian công nghệ mới - những “mốc tọa độ” đã mở rộng không gian phát triển, kết nối các vùng miền và đưa Việt Nam tiến gần hơn tới thế giới.

Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển

Tháng 3/1946, chỉ thời gian ngắn sau ngày lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 44/SL thành lập Ban Trung ương vận động đời sống mới và 1 năm sau, Người hoàn thành tác phẩm “Đời sống mới” dưới bút danh Tân Sinh, nhằm giáo dục cho cán bộ, nhân dân nếp sống mới khi lịch sử đất nước đã sang trang.

Từ Đổi mới đến khát vọng hùng cường - Bài cuối: Định vị mô hình phát triển

Trong bối cảnh những động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng suất và con người làm những động lực mới, đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam thịnh vượng.