Từ Đổi mới đến khát vọng hùng cường - Bài cuối: Định vị mô hình phát triển
Trong bối cảnh những động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng suất và con người làm những động lực mới, đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam thịnh vượng.
Xuất khẩu hàng hóa duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Ảnh minh họa

Trong bối cảnh những động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, năng suất và con người làm những động lực mới, đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam thịnh vượng. Một mô hình phát triển mới đang được định hình.

* Bối cảnh mới, yêu cầu mới

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình cao, hội nhập sâu rộng với thế giới và có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực. Những thành tựu đó được các chuyên gia và tổ chức quốc tế đánh giá là một câu chuyện phát triển đáng chú ý.

Nhưng chính thành công của 40 năm Đổi mới lại đặt ra một yêu cầu mới: không thể dùng mãi những động lực đã tạo nên thành công của quá khứ để giải quyết những bài toán của tương lai.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Theo các chuyên gia, động lực dựa vào vốn, lao động, tài nguyên và gia công cần được chuyển sang mô hình dựa nhiều hơn vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất lao động. Đây chính là điểm nối quan trọng giữa 40 năm Đổi mới và kỷ nguyên phát triển mới.

TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội, Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ, cho rằng những động lực dựa vào mở rộng nguồn lực đã từng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, nhưng khi các yếu tố đầu vào truyền thống dần chạm giới hạn, Việt Nam cần chuyển sang một cách tiếp cận mới. Ông nhấn mạnh: “Vấn đề đặt ra hiện nay là xây dựng một mô hình phát triển mới dựa trên năng lực quốc gia trong kỷ nguyên số và tăng trưởng GDP đạt 2 con số là kết quả của mô hình tăng trưởng mới”.

Như vậy, đổi mới mô hình phát triển không đơn thuần là thay đổi cách thức tạo ra GDP. Đó là sự thay đổi đồng bộ về cách tạo ra của cải, cách huy động và phân bổ nguồn lực, cách quản trị quốc gia và cách người dân được thụ hưởng thành quả phát triển.

* Kiến tạo không gian phát triển mới

Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã đề ra mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, tạo lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước với định hướng đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao.

Theo các chuyên gia, trong giai đoạn mới, một nền kinh tế năng động không thể vận hành bằng một phương thức quản lý chậm hơn tốc độ thay đổi của thị trường và công nghệ. Theo định hướng mới, quản trị quốc gia cần chuyển mạnh sang mô hình hiện đại, dựa trên dữ liệu, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, xây dựng môi trường thuận lợi để các chủ thể kinh tế phát huy năng lực.

PGS.TS. Bùi Văn Huyền, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng đổi mới thể chế phải được nhìn nhận như một trong những đột phá quan trọng nhất của mô hình phát triển mới. Theo ông, việc đổi mới tư duy và nâng cấp thể chế kinh tế thị trường lên một trình độ cao hơn không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn trở thành “đột phá của đột phá”, là “hạ tầng mềm” quyết định chất lượng và tính bền vững của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Cải cách thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ điểm nghẽn, mà phải tạo ra không gian cho cái mới. Điều đó đặc biệt quan trọng với những lĩnh vực chưa có tiền lệ, những mô hình kinh doanh mới, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo hay các công nghệ mới nổi. Nhà nước cần vừa bảo đảm kỷ cương, vừa tạo đủ không gian thử nghiệm để những sáng kiến mới có cơ hội phát triển.

Nếu thể chế là điều kiện mở đường thì khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực tạo tốc độ.

Tại Hội thảo quốc tế “Không gian phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Định hướng chiến lược và lựa chọn chính sách” tổ chức tại Hà Nội ngày 28/7, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhận định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là nền tảng để vừa làm mới những không gian phát triển truyền thống, vừa khai phá những không gian hoàn toàn mới.

Nhưng để biến khoa học - công nghệ thành động lực tăng trưởng, Việt Nam không thể chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ. Điều quan trọng hơn là phải tạo ra năng lực nghiên cứu, làm chủ, thương mại hóa và đưa công nghệ vào sản xuất.

Mối liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và các tổ chức nghiên cứu vì vậy phải được tăng cường. Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm hấp thụ và thương mại hóa công nghệ; nghiên cứu khoa học phải gắn chặt hơn với nhu cầu thực tiễn; các chính sách đầu tư cho khoa học - công nghệ phải được đánh giá bằng kết quả tạo ra năng suất, sản phẩm và giá trị mới.

Một điểm mới quan trọng trong tư duy phát triển là không chỉ khai thác những không gian truyền thống mà phải chủ động tạo ra không gian phát triển mới.Theo GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các không gian số, không gian ngầm, không gian đổi mới sáng tạo… có thể mở rộng dư địa tăng trưởng khi các động lực truyền thống dần chạm giới hạn. Tuy nhiên, không gian phát triển chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành giá trị, năng suất, chất lượng cuộc sống và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Điều này đòi hỏi một tư duy khác về quy hoạch và phân bổ nguồn lực. Hạ tầng giao thông phải gắn với không gian kinh tế; đô thị phải gắn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; dữ liệu phải trở thành một loại hạ tầng; các vùng kinh tế phải được liên kết thành những chuỗi giá trị thay vì phát triển biệt lập. Đây cũng là cách để Việt Nam mở rộng dư địa tăng trưởng mà không nhất thiết phải phụ thuộc ngày càng nhiều vào các yếu tố đầu vào truyền thống.

Những gì đã làm nên thành công của những năm Đổi mới không phải là một mô hình bất biến, mà chính là tinh thần dám đổi mới để thích ứng. Vì thế, đổi mới mô hình phát triển hôm nay chính là kế thừa và phát huy những thành tựu ấy để tạo ra một bước chuyển mới về chất. Mô hình phát triển mới đang được định hình – mở đường để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của phát triển nhanh, tự cường và thịnh vượng./.

Tin liên quan

Mở không gian đón dòng vốn FDI thế hệ mới: Bài cuối - Những "điểm chạm" nối hai cực công nghiệp

Thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, các địa phương đều đứng trước cùng một yêu cầu: làm tốt nhất những gì có thể để đón dòng vốn ngoại, đồng thời biến nguồn lực ấy thành công nghệ, việc làm, thu nhập, chuỗi liên kết và những động lực tăng trưởng mới. Khi từng địa phương cùng nâng chuẩn môi trường đầu tư, cùng tạo dựng hệ sinh thái đủ sức giữ chân và phát triển doanh nghiệp, dòng vốn FDI sẽ không chỉ là những con số đăng ký, mà trở thành nguồn lực quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển nhanh, bền vững hơn. Tuy nhiên, để những mục tiêu trên thành hiện thực, cấp thẩm quyền cũng cần xem xét hóa giải "điểm nghẽn", tạo cơ chế đặc thù, đủ mạnh để chính sách phát huy hiệu quả tốt nhất tại mỗi địa phương.

TP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 1: Đi đầu kiến tạo thể chế phát triển

Sau 40 năm Đổi mới (1986–2026), TP. Hồ Chí Minh đã chủ động đi đầu trong tháo gỡ những rào cản của cơ chế cũ để vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế lớn, hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Với GRDP hơn 115 tỷ USD, chiếm gần 24,4% GDP cả nước, thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển với không gian kinh tế rộng hơn, kết nối tài chính, công nghệ cao, công nghiệp, logistics và cảng biển. Khi các động lực tăng trưởng truyền thống dần bộc lộ giới hạn, TP. Hồ Chí Minh đang tìm kiếm một chu kỳ tăng trưởng mới bằng cách đổi mới thể chế, kiến tạo những mô hình kinh tế mới và nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo.

TP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài 2: Định hình những cực tăng trưởng mới

Khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán của TP. Hồ Chí Minh không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà còn phải tổ chức và kết nối chúng hiệu quả hơn. Trung tâm Tài chính quốc tế được kỳ vọng mở rộng các kênh huy động và phân bổ vốn, trong khi Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ tạo thêm dư địa cho sản xuất, thương mại và logistics quốc tế. Sự kết nối giữa dòng vốn và dòng hàng, cùng các cơ chế mới, đang hình thành những cấu phần quan trọng trong mô hình tăng trưởng của thành phố.

TP. Hồ Chí Minh mở dư địa tăng trưởng mới - Bài cuối: Nâng chất lượng tăng trưởng từ công nghệ và đổi mới sáng tạo

Từ nền tảng Khu Công nghệ cao và hệ sinh thái công nghệ đã hình thành, TP. Hồ Chí Minh đang hướng tới các lĩnh vực công nghệ chiến lược như: AI, bán dẫn, dữ liệu lớn, tự động hóa, công nghệ sinh học và năng lượng xanh. Mục tiêu không chỉ là thu hút thêm vốn và dự án, mà từng bước hình thành năng lực công nghệ, nâng năng suất và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.

Tin cùng chuyên mục

Từ Đổi mới đến khát vọng hùng cường - Bài 1: Thành tựu 40 năm và bước chuyển tư duy

40 năm Đổi mới đã làm thay đổi căn bản diện mạo và vị thế Việt Nam. Nhưng thành tựu của hôm qua không phải điểm dừng, mà là nền tảng để đất nước bước vào một chặng đường mới. Phát huy những thành quả đã có, đổi mới mô hình phát triển, tạo động lực mới đang trở thành yêu cầu cấp thiết để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Tuyên ngôn Độc lập - ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tôi yêu Tổ quốc tôi

81 năm trước, tại Quảng trường Ba Đình, một dân tộc đã tuyên bố với thế giới quyền được sống trong độc lập, tự do. 80 năm sau, cũng tại nơi ấy, một khát vọng mới được gọi tên: Việt Nam hùng cường, hưng thịnh, hạnh phúc vào năm 2045.

Ấn tượng Việt Nam sau gần 40 năm gắn bó của vị bác sĩ người Pháp

Gần 40 năm gắn bó với Việt Nam trong các chương trình hợp tác y tế, Bác sĩ Gildas Tréguier - Tổng Thư ký Liên đoàn Y tế Pháp-Việt (FSFV) - đã có cơ hội chứng kiến những bước chuyển mình sâu sắc của đất nước, từ những năm đầu Đổi mới, mở cửa với thế giới đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ hiện nay.

Chùa Tà Pạ nổi bật giữa mây trời vùng Bảy Núi

Tọa lạc trên đỉnh núi Tà Pạ, chùa Tà Pạ ở xã Tri Tôn, tỉnh An Giang nổi bật với kiến trúc Phật giáo Nam tông Khmer độc đáo, trong đó chánh điện được nâng đỡ bởi hàng trăm cây cột cao giữa lưng chừng núi. Cùng cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ của vùng Bảy Núi, ngôi chùa trở thành điểm đến thu hút du khách khi đến An Giang.

Tổ quốc, ta yêu Người mãi mãi!

Tình yêu Tổ quốc không chỉ là niềm xúc động khi nhìn lá cờ đỏ tung bay trong ngày Quốc khánh. Tình yêu ấy còn nằm trong cách mỗi người làm tốt công việc của mình, sống có trách nhiệm.

Tết Độc lập trên vùng "đất lửa"

Tròn 81 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, Quảng Trị - vùng đất gánh chịu nhiều đau thương mất mát, chứng kiến bao cảnh tàn khốc và hủy diệt của chiến tranh giờ đang vươn mình mạnh mẽ.