“Cánh tay nối dài” đưa chuyển đổi số đến cơ sở ở Đà Nẵng
Các Tổ công nghệ số cộng đồng tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt đưa chuyển đổi số đến từng khu dân cư, góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng phát triển theo hướng hiện đại, thông minh và lấy người dân làm trung tâm.

Với mạng lưới phủ khắp các thôn, tổ dân phố và hơn 24.000 thành viên tham gia, các Tổ công nghệ số cộng đồng và Đề án 06 về "Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030" trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đang khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt, “cánh tay nối dài” của Ban Chỉ đạo chuyển đổi số các cấp trong việc đưa kỹ năng số, dịch vụ số đến gần hơn với người dân, góp phần hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số toàn diện từ cơ sở.

Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) thành phố Đà Nẵng triển khai chia sẻ dữ liệu đến các phường, xã. 
Ảnh: Mỹ Hà-TTXVN.

Theo Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng, từ cuối năm 2021, xuất phát từ yêu cầu triển khai công tác chuyển đổi số tại cơ sở, các Tổ công nghệ số cộng đồng đã được thành lập và từng bước đi vào hoạt động tại tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng (trước sáp nhập). Qua thực tiễn triển khai, mô hình này đã chứng minh hiệu quả rõ nét trong việc hỗ trợ người dân tiếp cận, sử dụng các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến, đồng thời nâng cao nhận thức về an toàn thông tin trên môi trường mạng.

Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng Nguyễn Thanh Hồng cho rằng, các Tổ này đã và đang khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong triển khai chuyển đổi số tại cơ sở, góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Trung ương và thành phố đi vào thực tiễn đời sống. Sau khi thực hiện sáp nhập tỉnh, thành phố và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc kiện toàn, củng cố hoạt động của các Tổ công nghệ số cộng đồng được xác định là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm sự thống nhất về tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động và đáp ứng yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Cùng với đó, các Tổ này được giao nhiệm vụ triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” gắn với “Học tập số” ngay trong hoạt động thường xuyên tại khu dân cư. Cách làm này nhằm tạo nền tảng vững chắc để chuyển đổi số không chỉ dừng ở chủ trương, chính sách mà thực sự đi vào đời sống hằng ngày của người dân, nhất là các nhóm yếu thế trong tiếp cận công nghệ.

Đến nay, toàn bộ 93 địa phương trên địa bàn thành phố (không tính đặc khu Hoàng Sa) đã tham mưu ban hành quyết định củng cố và thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng. Mỗi thôn, tổ dân phố đều có một Tổ hoạt động thường xuyên. Toàn thành phố hiện có 3.766 Tổ với tổng số gần 24.303 thành viên. Mỗi Tổ có tối thiểu 7 người, trong đó Tổ trưởng thường là Tổ trưởng tổ dân phố, khu dân cư hoặc thôn; Tổ phó là Bí thư Đoàn Thanh niên; các thành viên gồm đại diện Công an khu vực, các tổ chức đoàn thể cơ sở như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, cán bộ khoa học và công nghệ hoặc nhân viên doanh nghiệp công nghệ số tại địa phương, cùng những người dân có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình tham gia hoạt động cộng đồng.

Bà Trần Thị Mai (phường Hòa Xuân, thành phố Đà Nẵng) cho biết, các Tổ thường xuyên phối hợp “đi từng ngõ, gõ từng nhà” để hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng các ứng dụng số, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng dùng chung của thành phố. Việc làm này giúp các gia đình ít hiểu biết về công nghệ có thể chủ động sử dụng điện thoại để nộp hồ sơ trực tuyến, thanh toán và tra cứu thông tin rất nhanh gọn.

Lễ phát động phong trào “Bình dân học vụ số” tại Đà Nẵng.
Ảnh: TTXVN phát

Bên cạnh đó, đoàn viên, thanh niên ở địa phương còn đóng vai trò nòng cốt trong việc hỗ trợ người dân tiếp cận các kỹ năng số cơ bản, nhất là trong sử dụng điện thoại thông minh và các ứng dụng phục vụ học tập, sản xuất, kinh doanh. Thực tiễn cho thấy, khi có sự đồng hành của lực lượng trẻ, người dân, đặc biệt là người cao tuổi cảm thấy yên tâm và cởi mở hơn trong việc học hỏi công nghệ, góp phần thu hẹp khoảng cách số giữa các nhóm dân cư, xây dựng xã hội số toàn diện.

Là người trực tiếp thụ hưởng, bà Hồ Thị Vui (53 tuổi, xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng) chia sẻ: "Nhờ sự hướng dẫn tận tình của Tổ công nghệ số cộng đồng, tôi đã biết sử dụng điện thoại thông minh để thanh toán tiền điện, nước, tra cứu thông tin và thực hiện một số thủ tục hành chính trực tuyến. Việc được hướng dẫn rõ ràng, dễ hiểu giúp người lớn tuổi như tôi không còn e ngại công nghệ, đồng thời cảm nhận rõ những tiện ích thiết thực mà chuyển đổi số mang lại trong cuộc sống hằng ngày".

Để duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng này, thời gian qua, tỉnh Quảng Nam (cũ) và thành phố Đà Nẵng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tiễn. Sau sáp nhập, HĐND thành phố Đà Nẵng đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ hoạt động của Tổ công nghệ số cộng đồng giai đoạn 2026 - 2027, với tổng kinh phí hơn 27 tỷ đồng, mức hỗ trợ 300.000 đồng/Tổ/tháng.

Các thành viên của Tổ Công nghệ số cộng đồng và Đề án 06 tại TP Đà Nẵng hướng dẫn người dân nộp hồ sơ dịch vụ công trực tuyến. 
Ảnh: TTXVN phát.

Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cùng cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp, các Tổ công nghệ số cộng đồng tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt đưa chuyển đổi số đến từng khu dân cư, góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng phát triển theo hướng hiện đại, thông minh và lấy người dân làm trung tâm./.


Tin liên quan

Khánh Hòa: Chuyển đổi số tạo cơ hội phát triển mới

Thực hiện chủ trương đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa đang tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý, sản xuất, kinh doanh. Nhiều quy trình được tự động hóa, các cơ sở dữ liệu số và hệ thống quản trị thông minh được xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động.

Chuyển đổi số là mệnh lệnh phát triển của Việt Nam

Sáng ngày 29/12, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Diễn đàn khoa học năm 2025 với chủ đề “Quản lý phát triển kinh tế xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số”. Diễn đàn thu hút sự tham gia của đông đảo chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý, tập trung bàn thảo những vấn đề then chốt của quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Đổi mới sáng tạo: Trụ cột cho giai đoạn tăng trưởng mới

Đổi mới sáng tạo được khẳng định là động lực then chốt, là đòn bẩy mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới - kỷ nguyên đất nước chuyển mình. Dự thảo chương trình hành động của Ban chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nêu rõ, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, được xác định là một trong những nhiệm vụ chủ yếu.

Tin cùng chuyên mục

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài cuối: Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực tổng hợp

Vùng kinh tế Đông Nam Bộ được xem là đầu tàu tăng trưởng, khu vực năng động bậc nhất của cả nước, đóng góp quan trọng vào GDP, xuất khẩu và thu ngân sách quốc gia. Trong bối cảnh hợp nhất địa giới hành chính, chuyển đổi mô hình phát triển và yêu cầu tăng trưởng bền vững, việc tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt của vùng đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, chính sách và hạ tầng cho hoạt động liên kết nội vùng, liên vùng.

Gỡ “nút thắt” kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 4: Tận dụng cơ chế

Thể chế liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ hiện nay bao gồm chính sách phát triển vùng do Trung ương ban hành, quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối vùng, cùng cơ chế, chính sách chung của quốc gia. Tuy nhiên, các cơ chế phối hợp liên vùng vẫn ở mức ban đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa hiệu quả giữa các địa phương thành phần sau khi hợp nhất. Việc hợp nhất đơn vị hành chính tạo ra dư địa hợp lực lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chung mang tính thực chất, hiệu quả.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 1: Điểm nghẽn hạ tầng

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, có nhiều lợi thế về không gian phát triển với hệ thống cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn, mạng lưới giao thông trục Bắc – Nam và đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế. Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là sau khi hợp nhất các địa phương, yêu cầu đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng Đông Nam Bộ càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành sắp đi vào khai thác, cùng định hướng hình thành Trung tâm Tài chính và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ (TP. Hồ Chí Minh) được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển mới cho toàn vùng.

Tái cấu trúc ngành nông nghiệp TP. Hồ Chí Minh - Bài cuối: Phân vùng nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng

Trong bối cảnh áp lực đô thị hóa vẫn rất lớn, nông nghiệp dễ rơi vào thế yếu nếu thiếu một quy hoạch không gian rõ ràng và cơ chế bảo vệ phù hợp. TP. Hồ Chí Minh đã xác định tái cấu trúc ngành nông nghiệp gắn với quy hoạch lại không gian phát triển theo vùng. Thay vì dàn trải nhiều loại cây, con trên cùng một địa bàn, Thành phố hướng tới phân vùng dựa trên lợi thế từng khu vực, từ điều kiện tự nhiên, hạ tầng đến khả năng kết nối thị trường. Đây được xem là bước đi mang tính chiến lược nhằm giải quyết căn cơ bài toán "đất nhiều nhưng giá trị thấp".