ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG: Khoa học – công nghệ mở đường cho “Đổi mới lần hai”
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc, nhanh chóng và khó lường, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức ngày càng trở thành trụ cột quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam được kỳ vọng sẽ xác lập những định hướng chiến lược quan trọng, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước, trong đó khoa học – công nghệ được xác định là động lực then chốt.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, PGS.TS Trần Lê Hưng, giảng viên Trường Kỹ sư Paris thuộc Đại học Gustave Eiffel, đánh giá Đại hội XIV của Đảng mang ý nghĩa chính trị và chiến lược đặc biệt quan trọng, không chỉ bởi đây là dịp tổng kết chặng đường 40 năm Đổi mới, mà còn bởi Đại hội diễn ra trong thời điểm đất nước đứng trước yêu cầu phải xác lập một mô hình phát triển mới, phù hợp với bối cảnh toàn cầu đầy biến động.

Ông nhấn mạnh rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên hầu hết các lĩnh vực: đời sống xã hội của nhân dân không ngừng được cải thiện, nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao, tiếng nói của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương và các tổ chức quốc tế ngày càng có trọng lượng. Tuy nhiên, trước những biến động thế giới phức tạp, khó lường, diễn biến nhanh gây ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh truyền thống và phi truyền thống đòi hỏi Đảng ta có những bước đi chiến lược quan trọng, sách lược khôn khéo cũng như định hướng rõ ràng, là kim chỉ nam để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đi theo.

PGS.TS. Trần Lê Hưng cho rằng những quyết sách lớn của Đảng trong thời gian qua, từ việc sắp xếp, tổ chức lại bộ máy, triển khai mô hình chính quyền hai cấp, đến việc ban hành các nghị quyết lớn về phát triển khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và hội nhập quốc tế, đều là sự chuẩn bị quan trọng để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.

PGS.TS Trần Lê Hưng, giảng viên Trường Kỹ sư Paris thuộc Đại học Gustave Eiffel.
Ảnh: TTXVN phát

Đặt trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang bùng nổ, với những đột phá về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa, ông nhấn mạnh rằng Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc phải đề cao vai trò của khoa học – công nghệ như nền tảng cho phát triển bền vững.

Theo đánh giá của ông, việc ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tạo ra một “cú hích” mạnh mẽ, nhận được sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi trong xã hội. Quyết định lựa chọn khoa học – công nghệ làm động lực chủ yếu cho tăng trưởng không chỉ mang ý nghĩa trước mắt, mà còn là bước đi chiến lược, bảo đảm tính bền vững và tự chủ cho nền kinh tế. Việc tự chủ đỉnh cao khoa học công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số, không chỉ giúp đất nước ta “độc lập” về đường hướng phát triển của riêng mình mà còn góp phần chung vào sự phát triển bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu chung của nhân loại.

PGS.TS. Trần Lê Hưng cho rằng những sản phẩm khoa học – công nghệ “Make in Vietnam” trong tương lai không chỉ phục vụ trực tiếp nhu cầu trong nước, cải thiện đời sống nhân dân và nâng cao năng suất lao động, mà còn hoàn toàn có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chính vì vậy, việc dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính cho phát triển được ông đánh giá là một lựa chọn đúng đắn, mang tầm nhìn dài hạn. Theo ông, Đại hội XIV của Đảng được kỳ vọng sẽ trở thành dấu mốc của một cuộc “Đổi mới thứ hai”, tạo ra bước chuyển mình mạnh mẽ cho đất nước trong kỷ nguyên mới.

Phòng nghiên cứu công nghệ nano hiện đại của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Ảnh: TTXVN phát

Bàn về đề xuất xây dựng mạng lưới các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm kết nối trí tuệ Việt Nam trên toàn cầu, PGS.TS. Trần Lê Hưng cho rằng đây là một mô hình có ý nghĩa chiến lược, cần được Đại hội XIV định hình rõ ràng về chủ trương và cơ chế triển khai. Theo ông, các trung tâm R&D không chỉ là nơi tiến hành nghiên cứu thuần túy, mà phải được thiết kế để trực tiếp giải quyết các bài toán cụ thể nảy sinh trong quá trình sản xuất, quản lý và chuyển đổi số của đất nước.

Ông phân tích rằng mô hình trung tâm R&D nếu được tổ chức bài bản sẽ cho phép tận dụng tối đa trí tuệ của người Việt Nam trong và ngoài nước, từng bước đưa đội ngũ chuyên gia trong nước tiệm cận với trình độ khoa học – công nghệ quốc tế, tiến tới làm chủ các công nghệ. Đồng thời, đây cũng là lời giải cho bài toán thu hút, trọng dụng và gìn giữ nhân tài, nhất là trong bối cảnh cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn mong muốn được đóng góp cho quê hương. Những vấn đề phức tạp trong nước có thể được giải quyết thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học trong nước và đội ngũ chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, dựa trên kinh nghiệm và bài học quốc tế, qua đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu tham quan triển lãm quốc tế về đổi mới sáng tạo với chủ đề “Công nghệ chiến lược - Định hình tương lai Việt Nam”.
Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN

Theo PGS.TS. Trần Lê Hưng, việc thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia các trung tâm R&D cũng sẽ tạo ra sức hút lan tỏa đối với các chuyên gia và đối tác quốc tế. Khi Việt Nam chủ động mời gọi và tạo điều kiện cho các nhà khoa học nước ngoài cùng tham gia giải quyết những bài toán phát triển của mình, điều đó không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, mà còn thể hiện rõ tinh thần hội nhập quốc tế chủ động, đa phương và toàn diện. Ông cho rằng cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, trong đó hội nhập không chỉ được hiểu theo chiều địa lý, mà còn bao trùm các lĩnh vực như ngoại giao nhân dân, ngoại giao số và đặc biệt là ngoại giao khoa học.

Một điểm nhấn quan trọng khác được ông đề cập là sự gắn kết chặt chẽ giữa các trung tâm R&D với các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước. Theo đó, các đề tài nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn sẽ được triển khai đồng thời với nhiệm vụ đào tạo thế hệ kế cận, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ có trình độ cao, sẵn sàng đảm đương các nhiệm vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Việc này phù hợp với tinh thần kết nối Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp đã được khẳng định trong Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Từ kinh nghiệm nghiên cứu và làm việc tại Pháp, PGS.TS. Trần Lê Hưng cũng thẳng thắn chỉ ra những rào cản mà trí thức trẻ Việt Nam ở nước ngoài đang gặp phải khi muốn đóng góp trực tiếp cho khoa học – công nghệ trong nước. Theo ông, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài, song trên thực tế, không ít trí thức vẫn băn khoăn về khả năng hòa nhập môi trường làm việc trong nước, đặc biệt là trong khu vực công. Do đó, bên cạnh các cơ chế đãi ngộ, cần chú trọng hơn đến việc trang bị các kỹ năng cần thiết, như quản lý nhà nước, lý luận chính trị ..., nhằm giúp những người trở về có thể nhanh chóng thích ứng và phát huy năng lực.

Dây chuyền lắp ráp robot trung chuyển wafer trong ngành bán dẫn.
Ảnh minh họa: Thành Phương/TTXVN

Đối với bộ phận trí thức lựa chọn tiếp tục sinh sống và làm việc ở nước ngoài, ông nhấn mạnh rằng điều này không đồng nghĩa với việc không thể đóng góp. Thực tế cho thấy nhiều hội, đoàn và mạng lưới trí thức đã hình thành trên tinh thần tự nguyện, hướng về Tổ quốc. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả hơn nguồn lực này, cần có một cơ chế điều phối phù hợp, với các đầu mối rõ ràng trong nước và tại từng địa bàn, nhằm tập hợp, duy trì hoạt động và chuyển hóa các sáng kiến thành giải pháp cụ thể cho những vấn đề trọng yếu của đất nước.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự chuyển dịch nhanh chóng của khoa học – công nghệ, PGS.TS. Trần Lê Hưng cho rằng các định hướng của Đại hội XIV cần đặc biệt nhấn mạnh việc tạo dựng môi trường thuận lợi cho tinh thần sáng tạo của đội ngũ trí thức trẻ. Việc Đảng và Nhà nước xác định 4 lĩnh vực ưu tiên chiến lược - gồm đường sắt cao tốc, điện hạt nhân, công nghiệp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo - cùng 11 nhóm ngành công nghệ chiến lược, theo ông, là bước đi đúng hướng. Trong thời gian tới, các dự án hạ tầng kể trên được kỳ vọng là xương sống thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, để các dự án hạ tầng và công nghệ quy mô lớn này vận hành một cách tối ưu nhất, yêu cầu tự chủ công nghệ cao cần được đặt lên hàng đầu.

Do đó, cần tận dụng tối đa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài – những trí thức được đào tạo ở nước ngoài và tiếp cận với đỉnh cao tri thức thế giới – bởi đây là nguồn “sức mạnh nội sinh” của dân tộc ta. Những chính sách cần mở rộng để thu hút và trọng dụng các trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp, xây dựng các quyết sách và dự án lớn, bên cạnh đó cũng cần lắng nghe các ý kiến phản biện mang tính xây dựng để chắt lọc được những bài học kinh nghiệm quý báu và áp dụng với tình hình thực tế ở Việt Nam. Đồng thời, việc mở rộng hợp tác nghiên cứu quốc tế, tham gia đồng tài trợ các dự án khoa học với các quỹ quốc tế sẽ là giải pháp hiệu quả để thu hút cả trí thức Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế cùng tham gia giải quyết những bài toán phát triển của Việt Nam.

Trên cương vị là thành viên Ban chủ nhiệm Mạng lưới Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu, PGS.TS. Trần Lê Hưng cho biết mạng lưới này, được thành lập từ năm 2018 theo sáng kiến của Trung ương Đoàn và Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc quy tụ trí thức trẻ Việt Nam trong và ngoài nước. Sau 8 năm hình thành và phát triển, mạng lưới đã tổ chức nhiều diễn đàn quy mô, thu hút sự tham gia của đông đảo trí thức trẻ trong các lĩnh vực từ công nghệ, xây dựng, kinh tế đến văn hóa và giáo dục.

PGS.TS Trần Lê Hưng, giảng viên Trường Kỹ sư Paris thuộc Đại học Gustave Eiffel, đoạt giải triển vọng trong Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2025.
Ảnh: TTXVN phát

Theo ông, điểm nổi bật của mạng lưới không chỉ nằm ở các diễn đàn trao đổi học thuật, mà còn ở việc hình thành các nhóm nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình triển khai các dự án cụ thể. Việc xây dựng các mạng lưới vệ tinh theo khu vực địa lý như châu Âu, Bắc Mỹ hay châu Đại dương đã giúp tăng cường sự kết nối, tạo nền tảng cho hoạt động bền vững và lâu dài. Trong thời gian tới, mạng lưới sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc đăng ký và triển khai các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước, thúc đẩy chuyển giao tri thức và công nghệ quốc tế về Việt Nam, qua đó góp phần đưa các công trình khoa học mang dấu ấn Việt Nam ngày càng hiện diện rõ nét hơn trên bản đồ khoa học thế giới.

Theo đánh giá của PGS.TS. Trần Lê Hưng, nếu Đại hội XIV có thể cụ thể hóa những định hướng lớn nêu trên bằng các cơ chế và chính sách đồng bộ, khoa học – công nghệ Việt Nam sẽ có cơ hội bứt phá mạnh mẽ, không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển trong nước mà còn đóng góp tích cực vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Điều đó, theo ông, sẽ là nền tảng vững chắc để Việt Nam tự tin vươn lên trong kỷ nguyên mới, với một nền khoa học – công nghệ tự chủ, sáng tạo và hội nhập sâu rộng./.

Tin liên quan

Đột phá theo Nghị quyết 57: “Chìa khóa” khoa học công nghệ dẫn tới tương lai

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, năm 2025, Việt Nam đặc biệt thúc đẩy hỗ trợ nghiên cứu và hợp tác, tháo gỡ điểm nghẽn, tạo điều kiện thuận lợi và môi trường nghiên cứu, đổi mới sáng tạo thông thoáng. Những bước triển khai ban đầu đã cho thấy sự chuyển biến nhất định trong đầu tư nghiên cứu và thúc đẩy hợp tác, với mục tiêu là chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế cụ thể. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chặng đường để đạt được mục tiêu vẫn còn nhiều khó khăn, cần quyết tâm chính trị rất lớn từ các cấp.

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Trong lưu bút của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại triển lãm ngành Hậu cần Quân đội, ngày 01/4/1958, Người viết: “Trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận”. Kinh nghiệm thực tiễn phong phú giúp Người sớm nhận ra nguồn lực vật chất là hữu hạn, còn nguồn lực trí tuệ, khả năng sáng tạo của con người là vô hạn, vì thế Con người là vốn quý nhất, là lực lượng to lớn nhất để xây dựng, phát triển đất nước. Đặc biệt, Người nhận ra, không phải chỉ những người “có tài giỏi đặc biệt mới có sáng kiến” mà ở những con người bình thường đều có thể đề xuất sáng kiến. Theo Bác, quần chúng rất thông minh sáng tạo, giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, nhanh chóng “mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.

Tin cùng chuyên mục

Chiến dịch “thần tốc”, vì hạnh phúc của nhân dân

Ngay từ khi đặt nền móng xây dựng Chính phủ cho một nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt trách nhiệm chăm lo cuộc sống nhân dân lên hàng đầu. Người xác định: Chính phủ phải là công bộc của dân. Công việc của Chính phủ phải nhằm một mục đích duy nhất là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân: “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG: Cần khung chính sách dài hạn để phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Paris, các thành viên Ban điều hành Mạng lưới chuyên gia năng lượng hạt nhân người Việt ở nước ngoài (VietNuc) cho rằng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam cần đưa ra một chiến lược và cam kết dài hạn, coi điện hạt nhân là nguồn năng lượng sạch và quan trọng trong cơ cấu điện quốc gia với tầm nhìn thế kỷ. Tầm nhìn này bao trùm từ khâu chuẩn bị, xây dựng, vận hành an toàn trong 60-80 năm, cho đến khâu xử lý nhiên liệu cuối vòng đời. Chỉ khi có một khung chính sách dài hạn và ổn định như vậy, Việt Nam mới có thể huy động được nguồn lực trí tuệ của kiều bào và sự hợp tác bền vững từ các cường quốc hạt nhân trên thế giới.

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam qua góc nhìn chuyên gia Campuchia

Đại hội XIV của Đảng được xem điểm khởi đầu công cuộc “Đổi Mới lần 2”, đánh dấu cột mốc bắt đầu kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam, hướng tới các mục tiêu mang tầm quốc gia vào năm 2030 và 2045, cũng như những vấn đề về lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay.

Giữ kỷ cương ngân sách, mở đường cho tăng trưởng

Giai đoạn 2021 - 2025 ghi dấu một chặng đường nhiều thử thách nhưng cũng rất đặc biệt của ngành tài chính Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, dịch bệnh, xung đột địa chính trị, lạm phát toàn cầu và đứt gãy chuỗi cung ứng đã tạo sức ép lớn lên mọi nền kinh tế, việc giữ vững ổn định tài chính ngân sách nhà nước, đồng thời tạo dư địa cho phục hồi và tăng trưởng, trở thành nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ của ngành. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự điều hành chủ động, linh hoạt của Bộ Tài chính, chính sách tài khóa đã phát huy vai trò trụ cột, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.

Trụ cột kiến tạo nền tảng phát triển trong kỷ nguyên mới

Trong khí thế thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng, những kết quả mà ngành công thương đạt được trong nhiệm kỳ 2021–2025 là minh chứng sinh động cho vai trò nòng cốt, trụ cột của ngành trong sự nghiệp phát triển đất nước. Đây đồng thời là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục bứt phá, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại và hội nhập sâu rộng đưa Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò của Đảng và coi công tác lựa chọn cán bộ của Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Người khẳng định:“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Người cũng đặt ra yêu cầu đối với mỗi người cán bộ là phải có nhân cách, phát triển toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Và để lựa chọn được những cán bộ hội tụ đủ cả “ĐỨC” và “TÀI” cho Đảng, Bác yêu cầu “Phải công tâm, khách quan, lựa chọn người thực sự tiêu biểu về trí tuệ, phẩm chất, đạo đức và năng lực hành động”.

Nền tảng mới cho động lực tăng trưởng xanh

Trong giai đoạn 2021 - 2025, ngành nông nghiệp và môi trường đánh dấu bước chuyển quan trọng, khi tái cơ cấu ngành không dừng ở điều chỉnh kỹ thuật sản xuất mà đã trở thành quá trình đổi mới toàn diện tư duy phát triển. Từ nền nông nghiệp nặng về sản lượng, Việt Nam đang từng bước hình thành kinh tế nông nghiệp dựa trên giá trị gia tăng, chất lượng, hiệu quả và bền vững. Trong bối cảnh dịch bệnh, biến đổi khí hậu và biến động sâu sắc của thị trường toàn cầu, những kết quả đạt được không chỉ khẳng định vai trò trụ đỡ của ngành nông nghiệp mà còn mở ra dư địa mới. Đưa khu vực này trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn tới.