"Đánh thức" tiềm năng đất đai
Không còn là giải pháp tình thế, chuyển đổi cây trồng trên đất kém hiệu quả ở Gia Lai đang dần trở thành hướng đi có tính chiến lược, giúp "đánh thức" tiềm năng đất đai, nâng cao giá trị sản xuất và tạo sinh kế ổn định cho người dân.


Diện tích đất khô hạn trước đây trồng sắn được chuyển đổi sang trồng thuốc lá tại các xã Ia Rsai và xã Phú Túc (Gia Lai). Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Hiệu quả của việc chuyển đổi không chỉ thể hiện qua con số thu nhập tăng lên, mà còn ở sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân. Tại xã Ia Rsai, gần 200 ha đất trồng mì bạc màu và diện tích lúa kém hiệu quả đã được chuyển sang trồng mía, thuốc lá. Nhờ phù hợp điều kiện thổ nhưỡng và chủ động nguồn nước, các loại cây trồng mới cho năng suất ổn định, đầu ra thuận lợi hơn.

Ông Võ Ngọc Châu, Chủ tịch UBND xã Ia Rsai cho biết, trước đây nhiều diện tích mì và lúa cho năng suất thấp, người dân thu nhập bấp bênh. Khi chuyển sang mía và thuốc lá, giá trị kinh tế tăng rõ rệt, cao gấp 2–3 lần so với trước. "Điều quan trọng không chỉ là tăng thu nhập mà còn giúp người dân thay đổi cách nghĩ, mạnh dạn áp dụng kỹ thuật, liên kết sản xuất, từ đó nâng cao tính bền vững trong sản xuất nông nghiệp", ông Châu nhấn mạnh.

Câu chuyện chuyển đổi cũng đang diễn ra rõ nét tại xã Phú Thiện, nơi cơ cấu cây trồng được điều chỉnh theo hướng linh hoạt, phù hợp từng vùng. Trong vụ Đông Xuân 2025 – 2026, trên tổng diện tích gieo trồng hơn 8.400 ha, địa phương đã chuyển khoảng 450 ha đất lúa năng suất thấp sang trồng khoai lang. Bên cạnh đó, nhiều diện tích mía, khoai mì kém hiệu quả cũng được thay thế bằng các cây trồng khác có giá trị cao hơn.

Theo ông Mai Ngọc Quý, Trưởng phòng Kinh tế xã Phú Thiện, hiệu quả từ chuyển đổi đã được kiểm chứng rõ ràng khi các loại cây trồng cạn như khoai lang cho giá trị kinh tế cao hơn 2–3 lần so với lúa trên cùng diện tích.

"Thời gian tới, việc chuyển đổi sẽ tiếp tục được triển khai theo từng khu vực, gắn với điều kiện đất đai, nguồn nước và đặc biệt là thị trường tiêu thụ. Địa phương cũng tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng liên kết sản xuất để đảm bảo đầu ra ổn định cho người dân", Trưởng phòng Kinh tế xã Phú Thiện cho biết.

Không chỉ dừng lại ở cây trồng ngắn ngày, nhiều hộ dân đã mạnh dạn chuyển đổi sang cây công nghiệp dài ngày để nâng cao giá trị sản xuất.

Tại làng Keo, xã Ayun, anh Đinh Vun là một trong những người tiên phong khi chuyển từ trồng mì, bắp, lúa rẫy sang trồng cà phê trên diện tích đất khô hạn. Tận dụng nguồn nước từ công trình thủy lợi Plei Keo, cùng kinh nghiệm tích lũy, anh đầu tư hệ thống tưới và chăm sóc cây theo đúng kỹ thuật.

Anh Đinh Vun (bên phải), làng Keo, xã Ayun (Gia Lai) là một trong những người tiên phong khi chuyển từ trồng mì, bắp, lúa rẫy sang trồng cà phê trên diện tích đất khô hạn. Ảnh: Hồng Điệp - TTXVN

Sau vài năm, vườn cà phê phát triển xanh tốt, cho năng suất ổn định. Không dừng lại ở đó, anh tiếp tục trồng thêm hồ tiêu, hình thành mô hình sản xuất đa cây trồng trên cùng diện tích. Nhờ sự kết hợp này, mỗi năm gia đình anh thu về hơn 200 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Mô hình của anh không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn tạo sức lan tỏa, giúp nhiều hộ dân trong làng thay đổi cách nhìn về sản xuất nông nghiệp.

Ở một hướng khác, gia đình ông Rô Châm ở buôn Đông Thuơ, xã Ia Rsai cũng mạnh dạn chuyển toàn bộ diện tích khoai mì sang trồng thuốc lá. Dù là vụ đầu tiên, cây trồng vẫn sinh trưởng tốt, năng suất đạt hơn 1,5 tấn. Với giá thu mua khoảng 60.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, gia đình có thể lãi trên 30 triệu đồng, cao hơn đáng kể so với trước.

Theo ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai, trong vụ Đông Xuân 2025–2026, tỉnh đã chuyển đổi khoảng 5.000 ha đất canh tác kém hiệu quả sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đạt gần 62% kế hoạch. Trong đó, hơn 2.300 ha đất lúa được chuyển sang trồng rau màu, bắp, đậu đỗ, thuốc lá và cỏ chăn nuôi; gần 2.700 ha diện tích cây trồng khác như mì, mía, điều kém hiệu quả cũng được thay thế bằng các loại cây phù hợp hơn.

Điểm đáng chú ý là quá trình chuyển đổi ngày càng đi vào chiều sâu, không còn mang tính tự phát mà gắn với quy hoạch sản xuất, điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường. Nhiều địa phương đã chủ động xây dựng vùng sản xuất hàng hóa, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đồng thời tăng cường liên kết với doanh nghiệp để bao tiêu sản phẩm.

Ông Đặng Hoài Châu, Chủ tịch UBND xã Phú Túc cho biết, địa phương đã và đang khuyến khích người dân chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững.

"Chúng tôi luôn khuyến cáo người dân không chạy theo thị trường ngắn hạn mà cần tính toán kỹ về điều kiện đất đai, nguồn nước và đầu ra. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ tưới tiết kiệm, sẽ tiếp tục được đẩy mạnh để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm", Chủ tịch UBND xã Phú Túc nói.

Từ những diện tích đất từng bị xem là kém hiệu quả, việc chuyển đổi cây trồng đang mở ra một hướng đi mới cho nông nghiệp Gia Lai. Không chỉ giúp nâng cao thu nhập, mô hình này còn góp phần hình thành tư duy sản xuất hiện đại, hướng tới nền nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và yêu cầu của thị trường./.


Tin liên quan

20 loại cơ sở dữ liệu quốc gia

Quyết định số 11/2026/QĐ-TTg ngày 28/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục cơ sở dữ liệu quốc gia. Theo đó, có 20 loại cơ sở dữ liệu quốc gia gồm: Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia; cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; cơ sở dữ liệu định danh địa điểm; cơ sở dữ liệu danh tính điện tử; cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh; cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính; cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo; cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính; cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu; cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức; cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ phông lưu trữ nhà nước Việt Nam; cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; cơ sở dữ liệu quốc gia về y tế; cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo; cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập.

Giải tỏa áp lực về nguồn vật liệu xây dựng

Trong bối cảnh bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư hạ tầng theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tây Ninh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030, bài toán bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát san lấp, đất đắp và đá xây dựng, đang trở thành một trong những yếu tố then chốt quyết định tiến độ và hiệu quả triển khai các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn.

Tin cùng chuyên mục

Đòn bẩy cho mục tiêu kinh tế tăng trưởng hai con số

Tỉnh Cà Mau bước vào giai đoạn 2026 - 2030 với mục tiêu đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt từ 10 - 12%. Để hiện thực hóa tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nhiều thách thức, tỉnh xác định khoa học công nghệ là đòn bẩy, cùng với sự bứt phá của khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò động lực then chốt, tạo nên sức mạnh tổng hợp để nâng tầm vị thế vùng đất cực Nam Tổ quốc.

"Thổi hồn" vào di sản để giữ chân du khách

Thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Đồng Tháp đã gìn giữ, trùng tu, bảo tồn các di tích văn hóa lịch sử và đưa vào khai thác các giá trị văn hóa trong việc sáng tạo, quảng bá, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, nghiên cứu, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương.

Kiến tạo diện mạo mới cho đảo Ngọc Phú Quốc

Với mục tiêu vươn mình trở thành trung tâm du lịch - dịch vụ cao cấp mang tầm quốc tế, đặc khu Phú Quốc (An Giang) đứng trước bước ngoặt quan trọng khi 5 đồ án quy hoạch phân khu ven biển được Hội đồng thẩm định tỉnh An Giang thống nhất định hướng quy hoạch chung, nhằm kiến tạo diện mạo mới cho đảo Ngọc Phú Quốc.

Mạch tri thức - Từ trang sách đến không gian số

Trong suốt chiều dài lịch sử, sách luôn là kho tàng lưu giữ tri thức của nhân loại. Và trong kỷ nguyên số, cách con người tiếp cận tri thức đang thay đổi từng ngày. Không chỉ dừng lại ở những trang giấy, văn hóa đọc đang mở rộng sang không gian số – nơi tri thức được lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn và đa dạng hơn bao giờ hết.

“Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc

Trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam diễn ra tại Pleiku ngày 19/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Ðồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Ðê, Xê Ðăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.