Đưa dịch vụ công trực tuyến đến gần người dân vùng cao
Từ những thủ tục quen thuộc như chứng thực, hộ tịch đến đất đai, ngày càng nhiều hồ sơ của người dân xã Tân Quang, tỉnh Tuyên Quang được tiếp nhận trên môi trường trực tuyến.
Thành viên "Tổ Dịch vụ công lưu động" hỗ trợ người dân thực hiện thủ tục hành chính. Ảnh: K GỬIH - TTXVN

Từ những thủ tục quen thuộc như chứng thực, hộ tịch đến đất đai, ngày càng nhiều hồ sơ của người dân xã Tân Quang, tỉnh Tuyên Quang được tiếp nhận trên môi trường trực tuyến. Phía sau những con số về số hóa là công việc của cán bộ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công và các Tổ công nghệ số cộng đồng ở cơ sở, từng bước giúp người dân, nhất là tại các thôn vùng xa, làm quen với cách thức giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số.

* Từ quầy tiếp nhận đến từng thôn bản

Những ngày cuối tháng 9, tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tân Quang, người dân đến giải quyết các thủ tục về chứng thực, hộ tịch, đất đai được cán bộ hướng dẫn thực hiện theo quy trình điện tử. Với những người chưa quen sử dụng điện thoại thông minh, tài khoản định danh điện tử hay thao tác trên cổng dịch vụ công, cán bộ trực tiếp hướng dẫn từng bước, từ kê khai thông tin, chuẩn bị giấy tờ đến nộp hồ sơ.

Theo ông Phạm Khắc Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Quang, riêng trong tháng 9/2026, Trung tâm Phục vụ hành chính công đã tiếp nhận 1.921/1.921 hồ sơ trực tuyến. Trong số đó 1.919 hồ sơ được giải quyết trước hạn, 3 hồ sơ quá hạn. Số hồ sơ tập trung chủ yếu ở lĩnh vực chứng thực với 1.073 hồ sơ, hộ tịch 445 hồ sơ và đất đai 107 hồ sơ…

Không gian số vì thế đang dần trở thành một phần trong hoạt động thường ngày của chính quyền cơ sở. Cùng thời gian này, 1.107 văn bản đến và 509 văn bản đi của xã được xử lý trên Hệ thống Quản lý văn bản; 509/509 văn bản đi, trừ văn bản mật, được ký số chuyên dùng công vụ, đạt 100%.

Anh Nguyễn Văn Nghĩa, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tân Quang cho biết, trong quá trình triển khai, điều quan trọng không phải chỉ đưa thủ tục lên môi trường điện tử mà còn phải giúp người dân biết cách sử dụng. Với những trường hợp chưa thành thạo công nghệ, cán bộ phải hướng dẫn cụ thể từng thao tác. Qua mỗi lần được hướng dẫn, người dân dần hình thành kỹ năng, từ chỗ cần cán bộ hỗ trợ nhiều bước đến có thể chủ động thực hiện một số thủ tục trực tuyến.

Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với một xã miền núi có địa bàn rộng, dân cư phân bố không tập trung như Tân Quang. Chuyển đổi số sẽ khó phát huy hiệu quả nếu chỉ dừng lại ở trang thiết bị và các phần mềm tại trụ sở. Bởi vậy, cùng với hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công, xã duy trì 1 Tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã và 14 Tổ công nghệ số cộng đồng cấp thôn với tổng số 150 thành viên. Các tổ hỗ trợ người dân về định danh điện tử, dịch vụ công trực tuyến, kỹ năng số và chuyển đổi từ thiết bị 2G sang 4G, điện thoại thông minh.

Tại thôn Bản Cưởm, Trưởng thôn Thào Văn Lèng cho biết, với người dân ở cơ sở, nhất là người cao tuổi và những người ít sử dụng điện thoại thông minh, những khái niệm như tài khoản định danh điện tử hay dịch vụ công trực tuyến ban đầu còn khá mới. Vì vậy, việc hướng dẫn phải thực hiện từng bước, bằng những việc cụ thể. Khi người dân hiểu cách sử dụng, họ sẽ thuận lợi hơn trong tiếp cận các thủ tục, tiện ích số và giảm dần việc phải trực tiếp đến cơ quan nhà nước đối với những thủ tục có thể thực hiện trực tuyến.

Bản Cưởm cũng là một trong những khu vực mà UBND xã xác định có thời điểm sóng viễn thông còn yếu, chưa ổn định. Cùng với Bản Cưởm, các thôn Nậm An, Nậm Chu, Nậm Khá và Minh Thượng vẫn cần tiếp tục được cải thiện hạ tầng viễn thông. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sử dụng các nền tảng số, dịch vụ công trực tuyến cũng như việc cập nhật dữ liệu tại cơ sở.

* Không để người dân đứng ngoài chuyển đổi số

Câu chuyện dịch vụ công trực tuyến ở Tân Quang vì vậy không đơn thuần là tăng tỷ lệ hồ sơ được tiếp nhận qua mạng. Khoảng cách từ một thủ tục đã được số hóa đến việc người dân ở một thôn vùng xa có thể tự thực hiện vẫn phụ thuộc vào hạ tầng viễn thông, thiết bị và kỹ năng số.

Hướng dẫn người dân thực hiện các thao tác dịch vụ công và thanh toán qua mã QR trên điện thoại thông minh. Ảnh: Thanh Vân - TTXVN
Nguyễn Thị Vân

Theo bà Trần Thị Dung, Phó Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Tân Quang, mục tiêu của Trung tâm là vừa bảo đảm giải quyết thủ tục đúng quy trình, thời gian, vừa hỗ trợ để người dân từng bước thích ứng với phương thức phục vụ trên môi trường số. Đối với những người chưa quen thao tác, cán bộ không thể chỉ hướng dẫn một lần mà cần giải thích cụ thể, dễ hiểu. Khi người dân sử dụng thành thạo hơn, chuyển đổi số mới thực sự góp phần giảm thời gian, công sức đi lại và nâng cao chất lượng phục vụ.

Cùng với dịch vụ công trực tuyến, Tân Quang đang mở rộng các tiện ích số gắn trực tiếp với đời sống người dân. Đến tháng 9/2026, toàn xã đã cấp thẻ căn cước cho 12.013/12.605 công dân, đạt 95,30%; riêng công dân từ đủ 14 tuổi đạt 99,72%. Có 10.040/11.614 công dân đủ điều kiện đã kích hoạt tài khoản định danh điện tử VNeID mức 2, đạt 86,44%. Nhiều loại giấy tờ tiếp tục được tích hợp trên VNeID, gồm 4.611 thẻ bảo hiểm y tế, 2.228 giấy phép lái xe, 1.524 tài khoản an sinh xã hội, 607 trường hợp đăng ký xe và 914 sổ bảo hiểm xã hội. Tại Trạm Y tế xã, 4.709/4.709 lượt tra cứu thông tin bảo hiểm y tế bằng căn cước/VNeID được thực hiện, đạt 100%.

Ở một lĩnh vực phức tạp hơn là đất đai, quá trình số hóa vẫn còn nhiều việc phải làm. Xã đã số hóa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 2.212/5.216 thửa, đạt 42,4%; đồng thời tiếp tục đối soát dữ liệu đối với những trường hợp thông tin địa chính hình thành qua nhiều thời kỳ chưa thống nhất.

Những kết quả này diễn ra trong quá trình Tân Quang triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo báo cáo của Văn phòng Đảng ủy xã Tân Quang, trong tổng số 183 nhiệm vụ được theo dõi, 127 nhiệm vụ đã hoàn thành, chiếm 69,4%; 52 nhiệm vụ đang triển khai theo lộ trình. Xã đồng thời thực hiện Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, chuyển đổi số ở cấp cơ sở vẫn còn những điểm nghẽn. Hiện việc này tại xã chủ yếu do công chức kiêm nhiệm, chưa có nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin, trong khi khối lượng công việc liên quan đến quản trị dữ liệu, vận hành nền tảng số và bảo đảm an toàn thông tin ngày càng tăng. Địa hình miền núi, dân cư phân tán và hạ tầng viễn thông ở một số khu vực còn hạn chế cũng ảnh hưởng đến việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ số.

Để khắc phục, Tân Quang tiếp tục duy trì 15 Tổ công nghệ số cộng đồng, đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số”, ưu tiên hỗ trợ người dân ở những khu vực khó tiếp cận công nghệ; đồng thời phối hợp với cơ quan chuyên môn và doanh nghiệp viễn thông rà soát các vùng sóng yếu, lõm sóng để từng bước cải thiện hạ tầng.

Từ quầy tiếp nhận tại Trung tâm Phục vụ hành chính công đến những thôn còn khó khăn về hạ tầng viễn thông, chuyển đổi số ở Tân Quang đang được triển khai từ những việc gần với người dân nhất. Khi một người dân biết tự sử dụng tài khoản định danh, nộp một hồ sơ trực tuyến hay tra cứu thông tin bằng căn cước điện tử, khoảng cách giữa chính quyền số và đời sống được rút ngắn thêm một bước. Đó cũng là cách để dịch vụ công trực tuyến thực sự đến gần hơn với người dân vùng cao./.

Tin liên quan

Nghị quyết 57-NQ/TW: Luật Hải quan sửa đổi tạo cơ sở pháp lý cho hải quan số

Gần như toàn bộ quy trình thủ tục hải quan cơ bản đã được tự động hóa, thời gian thông quan luồng xanh chỉ còn tính bằng giây, trong khi tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa giảm xuống khoảng 2,65%. Trên nền tảng đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 23/8, có hiệu lực từ 1/3/2027, tiếp tục chuyển trọng tâm từ hồ sơ giấy sang dữ liệu điện tử, tăng kết nối, chia sẻ dữ liệu và ứng dụng công nghệ trong quản lý hải quan.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Lan tỏa STEM, kiến tạo nguồn nhân lực công nghệ tương lai

Sau 1 năm triển khai chương trình STEM Innovation Petrovietnam, cả nước có 91 trường trong số 108 trường học được trang bị phòng giáo dục thực hành công nghệ (STEM) đã tham gia vào hệ thống FabLab của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Hoa Kỳ; giúp Việt Nam dẫn đầu châu Á và Top 5 thế giới tham gia vào mạng lưới này. Tuy nhiên, trên hành trình lan tỏa STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học), vẫn còn nhiều khó khăn ở phía trước đòi hỏi phải có các giải pháp phù hợp để việc đầu tư STEM phát huy hiệu quả.

Tin cùng chuyên mục

Cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hợp tác công nghệ tại Đức

Việt Nam có những nền tảng quan trọng để phát triển công nghệ, từ nguồn nhân lực STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) đến kinh nghiệm cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) cho thị trường quốc tế. Tuy nhiên, theo chuyên gia Đức, để tạo ra giá trị công nghệ cao hơn, doanh nghiệp Việt Nam cần tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị, từ thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật theo yêu cầu sang chủ động tham gia giải quyết bài toán kinh doanh của khách hàng.

Gần 50% người Việt Nam có chữ ký số

Theo Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC), tính đến cuối tháng 8, Việt Nam có hơn 33,6 triệu chứng thư chữ ký số, tương đương 48,65% dân số trưởng thành. Tỷ lệ này tăng hơn mười điểm phần trăm so với mức 38,2% cuối 2025. Mục tiêu của Bộ Khoa học và Công nghệ là đưa tỷ lệ lên trên 70% dân số vào năm 2030.

Nghị quyết 26 - Đòn bẩy phát triển du lịch Việt Nam

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Thị trường mở rộng, hạ tầng được đầu tư, sản phẩm và chất lượng dịch vụ từng bước được nâng lên. Nhưng quy mô càng lớn, yêu cầu phát triển càng cao. Du lịch không chỉ cần tăng lượng khách mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW, xác định phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.