Kết nối vùng nguyên liệu, mở đường cho nông sản vào chuỗi phân phối
Việc thiết lập các chuỗi liên kết liên vùng không chỉ giúp khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ mà còn hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn, đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.
Sở hữu vùng nguyên liệu quy mô lớn sẽ thu hút hàng loạt doanh nghiệp chế biến trong và ngoài nước. Ảnh minh họa: Nhật Bình – TTXVN

Trong bối cảnh không gian kinh tế nông nghiệp được mở rộng, các tỉnh, thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên đang đứng trước thời cơ lớn để tái cấu trúc và tối ưu hóa nguồn lực. Việc thiết lập các chuỗi liên kết liên vùng không chỉ giúp khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ mà còn hình thành các vùng nguyên liệu quy mô lớn, đủ sức đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.

*Minh bạch nguồn gốc, chuẩn hóa vùng nuôi trồng

Để nông sản Việt trụ vững tại thị trường nội địa và vươn xa quốc tế, việc chuẩn hóa vùng nuôi trồng cùng minh bạch thông tin truy xuất nguồn gốc được xác định là yêu cầu sống còn. Công tác quản lý nhà nước tại các địa phương đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ thụ động kiểm tra sang chủ động phòng ngừa và giám sát bằng công nghệ số.

Tại Lâm Đồng, tỉnh đã cấp 1.242 mã số vùng trồng, hơn 300 cơ sở đóng gói, công nhận 107.306 ha nông nghiệp công nghệ cao và hơn 153.000 ha sản xuất an toàn bền vững. Tỉnh duy trì lấy 1.200 - 1.300 mẫu kiểm nghiệm chất lượng mỗi năm, đạt tỷ lệ an toàn trên 98%.

Theo bà Nguyễn Thùy Quý Tú, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh Lâm Đồng, địa phương đang đẩy mạnh số hóa nhật ký canh tác và ứng dụng mã QR minh bạch thông tin. Khi nông sản Lâm Đồng thâm nhập hệ thống bán lẻ Cần Thơ, mã QR phải cung cấp đầy đủ thông tin về chủ thể sản xuất, vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chứng nhận, ngày thu hoạch và đơn vị chịu trách nhiệm.

Trong khi đó, ông Nguyễn Hoàng Linh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh An Giang cho biết, công tác giám sát an toàn thực phẩm được thực hiện gắt gao với 913 mẫu nông lâm thủy sản được phân tích (đạt tỷ lệ an toàn 91,57%), các mẫu vi phạm đều được truy xuất nguyên nhân để xử lý. Nhằm nâng cao hiệu quả giai đoạn 2026 - 2030, đại diện ngành nông nghiệp An Giang đề xuất xây dựng hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu truy xuất nguồn gốc liên tỉnh để kiểm soát chéo, đồng thời phấn đấu mỗi năm xây dựng mới ít nhất 3 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn liên kết chặt chẽ với Cần Thơ.

Minh chứng sinh động cho tư duy sản xuất bài bản là câu chuyện thành công của Hợp tác xã Sản xuất - Thương mại Nhất Tâm (Cần Thơ). Hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thủy sản từ năm 2016, hợp tác xã đã chủ động liên kết hình thành 6 vùng nuôi đạt chuẩn VietGAP với tổng diện tích trên 35 ha, đầu tư nhà máy chế biến và hệ thống kho lạnh rộng 4.400 m2.

Nhờ duy trì nghiêm ngặt các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế như HACCP, ISO 22000, VietGAP, FDA (Hoa Kỳ) và Halal, giai đoạn 2020 - 2025, Hợp tác xã Nhất Tâm đã cung ứng ra thị trường hơn 14.000 tấn sản phẩm với hơn 70 mặt hàng chế biến giá trị gia tăng. Doanh nghiệp đạt doanh thu thuần 1.104 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 7,486 tỷ đồng và tạo việc làm ổn định cho hơn 140 lao động với thu nhập bình quân 8 triệu đồng/người/tháng. Sản phẩm thủy sản của Nhất Tâm đã xuất khẩu thành công sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada, Australia.

Ông Nguyễn Minh Đạt, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nhất Tâm đúc kết: "Xuất khẩu bền vững không bắt đầu từ nhà máy hay thị trường nước ngoài, mà bắt đầu từ một vùng nguyên liệu tốt, một người nuôi có trách nhiệm và một chuỗi liên kết có lợi ích hài hòa. Khi người nuôi có đầu ra ổn định, hợp tác xã có nguyên liệu chuẩn; khi nhà máy kiểm soát tốt chất lượng, khách hàng sẽ có niềm tin lâu dài".

Tại lễ ký kết hợp tác giai đoạn 2026 - 2030, ngành nông nghiệp các địa phương cùng cộng đồng doanh nghiệp thống nhất triển khai 4 trụ cột liên kết trọng tâm. Trước hết là thiết lập cơ chế cảnh báo sớm và kiểm soát an toàn thực phẩm liên tỉnh qua đầu mối thông tin thường trực nhằm kịp thời khoanh vùng, xử lý tận gốc vi phạm về chất lượng và mã số vùng trồng.

Bên cạnh đó, các địa phương chuyển mạnh từ quảng bá đơn thuần sang kết nối đơn hàng, hỗ trợ hợp tác xã ký hợp đồng cung ứng dài hạn với chợ đầu mối, bếp ăn tập thể và các chuỗi siêu thị lớn như MM Mega Market, Go!, Saigon Co.op. Chương trình cũng thúc đẩy liên kết thương mại hai chiều, đưa Cần Thơ thành đầu mối phân phối nông sản Lâm Đồng, An Giang tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời đưa sản phẩm OCOP và đặc sản Cần Thơ vào hệ thống tiêu thụ, du lịch của các tỉnh đối tác. Cùng đó, việc duy trì kênh trao đổi thông tin định kỳ về mùa vụ, sản lượng và biến động giá sẽ giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch thu mua, hạn chế tối đa rủi ro "được mùa mất giá" và đứt gãy chuỗi cung ứng.

Sự phối hợp thực chất, đồng bộ và sáng tạo giữa TP. Cần Thơ cùng các tỉnh, thành phố hứa hẹn sẽ nâng tầm giá trị nông sản Việt, hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, an toàn và phát triển bền vững.

Vùng nguyên liệu chuối xuất khẩu. Ảnh: Hoài Nam - TTXVN

*Nhận diện “nút thắt” và lợi thế bù trừ giữa các vùng sinh thái

Nhìn lại toàn diện kết quả thực hiện Chương trình phối hợp số 05/CTPH-BNNPTNT-UBND giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) với UBND TP. Cần Thơ giai đoạn 2022 - 2025, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và nâng cao chất lượng nông lâm thủy sản giao thương đã đạt nhiều kết quả nổi bật.

Với vai trò là trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ, logistics và chế biến nông sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, TP. Cần Thơ đã phát huy tốt vai trò hạt nhân trong việc kết nối sản xuất, tiêu thụ và lan tỏa các mô hình nông nghiệp an toàn. Đến nay, Cần Thơ đã hoàn tất ký kết hợp tác với 12 tỉnh, thành phố trọng điểm trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam, tiêu biểu như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng, An Giang.

Mạng lưới liên kết rộng lớn này đã đạt được nhiều kết quả thiết thực, hình thành từ 144 đến 149 chuỗi cung ứng thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn, chất lượng. Tính chung trên phạm vi cả nước, Cần Thơ đã phát triển các vùng nguyên liệu tập trung, xây dựng và duy trì 252 chuỗi cung ứng thực phẩm giao thương, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 12 - 15%/năm, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 10%/năm. Đồng thời, 2.357 sản phẩm OCOP từ các địa phương đối tác đã được công nhận và kết nối giao thương hiệu quả thông qua đầu mối Cần Thơ, góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ và đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng.

Theo bà Nguyễn Thị Thùy Nhi, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Cần Thơ, cơ chế phối hợp đã giúp các địa phương chủ động chia sẻ, trao đổi thông tin, dữ liệu về thị trường, quy chuẩn chất lượng và nhu cầu tiêu thụ. Đây là cơ sở quan trọng giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường.

Nhìn từ góc độ vùng sản xuất trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang là đại diện tiêu biểu cho tiềm năng cung ứng lúa gạo, cá tra, trái cây và rau màu. Trong giai đoạn 2022 - 2025, tỉnh An Giang đã xây dựng 16 chuỗi cung ứng an toàn với 32 sản phẩm chủ lực. Tỉnh đã cấp 1.291 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu trên diện tích 46.284 ha, đạt 573 ha chứng nhận VietGAP, 356 ha chứng nhận hữu cơ và công nhận 582 sản phẩm OCOP. Đến nay, An Giang đã đưa 62 sản phẩm OCOP như đường thốt nốt, xoài, nhãn, thủy sản khô, mắm thâm nhập ổn định vào hệ thống phân phối tại Cần Thơ.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng Linh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh An Giang thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cố hữu: quy mô sản xuất địa phương còn nhỏ lẻ; tỷ lệ cấp chứng nhận an toàn thực phẩm còn thấp; công nghệ bảo quản và vận chuyển chưa đồng bộ. Đáng chú ý, cơ cấu sản phẩm giữa An Giang và Cần Thơ có sự trùng lắp lớn, đều mạnh về trái cây, rau màu, thủy sản, dẫn đến cạnh tranh trực tiếp thay vì bổ trợ cho nhau. Ngoài ra, số lượng sự kiện kết nối cung cầu trực tiếp giữa hai địa phương còn khiêm tốn, thương lái hai bên chủ yếu kết nối tự phát mà chưa qua kênh chính thức.

Ở chiều ngược lại, tỉnh Lâm Đồng thuộc vùng Tây Nguyên có quy mô nông nghiệp lớn với hơn 1 triệu ha diện tích gieo trồng đa dạng sinh thái.

Bà Nguyễn Thùy Quý Tú, Chi cục trưởng Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường tỉnh Lâm Đồng chia sẻ, sau khi hợp nhất đơn vị hành chính, Lâm Đồng sở hữu sản lượng nông sản khổng lồ: cà phê đạt trên 1 triệu tấn/năm (60% đạt tiêu chuẩn quốc tế), rau đạt xấp xỉ 3 triệu tấn, hoa trên 4,5 tỷ cành, sầu riêng 300.000 tấn, thanh long 578.000 tấn, cùng hệ thống nuôi trồng thủy sản nước lạnh như cá tầm, cá hồi lớn nhất cả nước. Tỉnh đã hình thành 428 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ với 47.590 hộ tham gia, đưa tỷ lệ sản phẩm tiêu thụ qua hợp đồng liên kết đạt 55% tổng sản lượng. Sự kết nối giữa Lâm Đồng và Cần Thơ chính là sự bù trừ hoàn hảo về mặt sinh thái và chủng loại nông sản giữa xứ lạnh cao nguyên và vùng sông nước miền Tây.

Phân tích về “nút thắt” lưu thông nông sản, ông Nguyễn Văn Cương, Giám đốc Hợp tác xã Rau sạch Nguyễn Minh (Lâm Đồng) cho biết, người nông dân lâu nay vẫn trăn trở với câu hỏi "Trồng cây gì, bán cho ai?", trong khi các doanh nghiệp phân phối tại Cần Thơ lại khó tìm nguồn cung đạt chuẩn, ổn định. Nút thắt nằm ở chỗ hai bên chưa gặp nhau ở một "ngôn ngữ chung": ngôn ngữ của tiêu chuẩn, sản lượng cam kết và phương thức giao dịch hiện đại. Từ đó, đại diện hợp tác xã kiến nghị cần chuyển mạnh từ chu trình truyền thống "sản xuất, thu hoạch, tìm người mua" sang chu trình thị trường: "nhu cầu thị trường, đơn hàng, kế hoạch sản xuất, tổ chức vùng nguyên liệu, cung ứng".

Tin liên quan

Vùng Đông Nam Bộ: Từ không gian mới đến cực tăng trưởng chiến lược - Bài 1: Vùng động lực số một cả nước

Từ "đầu tàu kinh tế" truyền thống, vùng Đông Nam Bộ đang chuyển mình sang mô hình phát triển dựa trên hạ tầng liên kết hiện đại, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, logistics, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tục, bài toán không chỉ là phát huy lợi thế của từng địa phương mà còn là tạo sức mạnh cộng hưởng của cả vùng thông qua cơ chế liên kết, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khi các nguồn lực được khơi thông và liên kết vùng được vận hành hiệu quả, Đông Nam Bộ sẽ tiếp tục khẳng định vị thế là cực tăng trưởng số một, dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Phát huy nội lực doanh nghiệp, tăng cường liên kết vùng miền Trung

Sáng 26/9, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng bàn tròn kết nối nội lực cấp miền: Phiên bàn tròn khu vực miền Trung, do Hội Doanh nhân trẻ thành phố Đà Nẵng tổ chức. Đây là Phiên bàn tròn cấp miền thứ 2 trong khuôn khổ VPSF 2026.

Tin cùng chuyên mục

Cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hợp tác công nghệ tại Đức

Việt Nam có những nền tảng quan trọng để phát triển công nghệ, từ nguồn nhân lực STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) đến kinh nghiệm cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) cho thị trường quốc tế. Tuy nhiên, theo chuyên gia Đức, để tạo ra giá trị công nghệ cao hơn, doanh nghiệp Việt Nam cần tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị, từ thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật theo yêu cầu sang chủ động tham gia giải quyết bài toán kinh doanh của khách hàng.

Gần 50% người Việt Nam có chữ ký số

Theo Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC), tính đến cuối tháng 8, Việt Nam có hơn 33,6 triệu chứng thư chữ ký số, tương đương 48,65% dân số trưởng thành. Tỷ lệ này tăng hơn mười điểm phần trăm so với mức 38,2% cuối 2025. Mục tiêu của Bộ Khoa học và Công nghệ là đưa tỷ lệ lên trên 70% dân số vào năm 2030.

Nghị quyết 26 - Đòn bẩy phát triển du lịch Việt Nam

Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Thị trường mở rộng, hạ tầng được đầu tư, sản phẩm và chất lượng dịch vụ từng bước được nâng lên. Nhưng quy mô càng lớn, yêu cầu phát triển càng cao. Du lịch không chỉ cần tăng lượng khách mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26-NQ/TW, xác định phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. 

Giữ hồn Tết Trung thu cho những “mầm non” xa xứ

Dù thiếu vắng những con phố đèn lồng rực rỡ hay không khí rộn rã quen thuộc nơi quê nhà, nhưng các em nhỏ người Việt ở thủ đô New Delhi của Ấn Độ vẫn được hưởng trọn vẹn một đêm hội Trung thu ấm áp và lung linh sắc màu.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Lan tỏa STEM, kiến tạo nguồn nhân lực công nghệ tương lai

Sau 1 năm triển khai chương trình STEM Innovation Petrovietnam, cả nước có 91 trường trong số 108 trường học được trang bị phòng giáo dục thực hành công nghệ (STEM) đã tham gia vào hệ thống FabLab của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT), Hoa Kỳ; giúp Việt Nam dẫn đầu châu Á và Top 5 thế giới tham gia vào mạng lưới này. Tuy nhiên, trên hành trình lan tỏa STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học), vẫn còn nhiều khó khăn ở phía trước đòi hỏi phải có các giải pháp phù hợp để việc đầu tư STEM phát huy hiệu quả.

Tết Khẩu Hó mừng lúa mới vùng biên

Khi những thửa ruộng bước vào mùa lúa chín, đồng bào dân tộc Lào ở xã biên giới Mường Nhà, tỉnh Điện Biên lại đón Tết Khẩu Hó – Tết mừng lúa mới. Qua những nghi lễ truyền thống, mâm cơm thơm hương nếp mới và tiếng khèn bè ngân vang, một nét văn hóa được trao truyền, gìn giữ trong đời sống cộng đồng.