Vùng Đông Nam Bộ: Từ không gian mới đến cực tăng trưởng chiến lược - Bài 1: Vùng động lực số một cả nước
Từ "đầu tàu kinh tế" truyền thống, vùng Đông Nam Bộ đang chuyển mình sang mô hình phát triển dựa trên hạ tầng liên kết hiện đại, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, logistics, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tục, bài toán không chỉ là phát huy lợi thế của từng địa phương mà còn là tạo sức mạnh cộng hưởng của cả vùng thông qua cơ chế liên kết, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khi các nguồn lực được khơi thông và liên kết vùng được vận hành hiệu quả, Đông Nam Bộ sẽ tiếp tục khẳng định vị thế là cực tăng trưởng số một, dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.


Từ yêu cầu trên, TTXVN thực hiện chùm bài với chủ đề “Vùng Đông Nam Bộ: Từ không gian mới đến cực tăng trưởng chiến lược”, tập trung phân tích toàn diện vị thế, động lực, những điểm nghẽn và giải pháp để vùng Đông Nam Bộ tiếp tục giữ vai trò vùng phát triển năng động, trở thành cực tăng trưởng hàng đầu của đất nước trong kỷ nguyên mới, nhất là trong bối cảnh Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.

Bài 1: Vùng động lực số một cả nước

Hạ tầng cảng biển của TP. Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu liên kết vùng của vùng Đông Nam Bộ. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN

Sau sắp xếp đơn vị hành chính mới, bức tranh tổng thể của vùng Đông Nam Bộ có nhiều thay đổi cấu phần bên trong; đồng thời, tạo không gian phát triển mới với nhiều thuận lợi trong liên kết, đặc biệt là về hạ tầng kết nối. Với vị thế mới, vùng Đông Nam Bộ tiếp tục là động lực tăng trưởng lớn nhất của nền kinh tế.

* Tiên phong định hình mô hình tăng trưởng mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững đặt lên vai vùng Đông Nam Bộ nói chung và từng địa phương trong vùng là TP. Hồ Chí Minh với vai trò trung tâm cùng sự phát triển mạnh mẽ của Đồng Nai, Tây Ninh hiện nay là rất nặng nề, đòi hỏi cần có một mô hình tăng trưởng mới.

Với quy mô đóng góp khoảng 1/3 GDP và hơn 40% ngân sách của cả nước, vùng Đông Nam Bộ từ lâu đã giữ vị trí đặc biệt trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, lợi thế về quy mô không còn đủ để bảo đảm tốc độ tăng trưởng cao. Vùng phải chuyển từ mô hình dựa nhiều vào đất đai, lao động và mở rộng sản xuất sang mô hình dựa trên năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dịch vụ chất lượng cao và khả năng kết nối với thị trường toàn cầu.

Tiến sỹ Trần Du Lịch, thành viên Hội đồng khoa học TP. Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng tư vấn triển khai Nghị quyết 98 của Quốc hội, cho rằng vùng Đông Nam Bộ hiện có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ bởi quy mô kinh tế mà còn bởi khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư, kết nối và lan tỏa. Do đó, cần nhìn Đông Nam Bộ như một cửa ngõ, một HUB có khả năng thu hút và kết nối với toàn cầu, thay vì chỉ nhìn đây là một vùng có quy mô kinh tế lớn.

Định hướng này cũng được thể hiện rõ trong Quyết định số 615/QĐ-TTg về điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, đến năm 2030, vùng Đông Nam Bộ được định hướng trở thành vùng văn minh, hiện đại, công nghiệp phát triển, vượt qua ngưỡng thu nhập cao; là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước, trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực.

Đây là một sự thay đổi quan trọng về tư duy phát triển, vùng Đông Nam Bộ không chỉ được kỳ vọng tiếp tục đóng góp lớn cho ngân sách và tăng trưởng quốc gia, mà phải đi đầu trong xác lập mô hình tăng trưởng mới, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát thải carbon thấp, đô thị xanh và thông minh.

Điều đó buộc các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ phải chuyển từ tư duy “mở rộng để tăng trưởng” sang “nâng chất để tăng trưởng”. Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghiệp công nghệ cao, logistics thông minh, kinh tế số và kinh tế xanh đang mở ra dư địa phát triển mới. Theo Tiến sỹ Trần Du Lịch, muốn đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số, TP. Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ phải đi đầu trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa chủ yếu vào vốn sang dựa nhiều hơn vào công nghệ, khoa học kỹ thuật, năng suất, chất lượng và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.

Tại buổi làm việc với 3 địa phương vùng Đông Nam Bộ vào tháng 5/2026 vừa qua, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, nhấn mạnh vùng Đông Nam Bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của cả nước; trong đó, TP. Hồ Chí Minh, thành phố Đồng Nai và Tây Ninh là những địa phương có vị trí chiến lược, có tiềm năng và dư địa phát triển rất lớn; được kỳ vọng đi đầu, hình thành các động lực tăng trưởng mới.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, sự phát triển của 3 địa phương sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đóng góp quan trọng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số của đất nước. Trong số đó, việc thực hiện các dự án giao thông quan trọng quốc gia trên địa bàn gồm Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Vành đai 3, Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh và cao tốc Biên Hòa-Vũng Tàu, không chỉ góp phần vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số cho các địa phương mà còn tạo bước đột phá chiến lược về hạ tầng giao thông, mở rộng không gian phát triển mới cho vùng Đông Nam Bộ cũng như cả khu vực phía Nam.

* Định hình không gian kinh tế đô thị chung

Quốc lộ 22 qua địa bàn phường Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, được dự kiến mở rộng lên 8 làn xe. Ảnh: Minh Phú - TTXVN

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, vùng Đông Nam bộ còn 3 địa phương là TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh. Mỗi địa phương có những thế mạnh riêng, nhưng tất cả đều có sự liên kết với nhau với hệ thống hạ tầng, bổ trợ cho nhau trong phát triển; trong đó, TP. Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo, dịch vụ chất lượng cao; là trung tâm công nghiệp chế biến, sản xuất thông minh (Bình Dương cũ); trung tâm cảng biển, logistics và kinh tế biển (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ). Đồng Nai là trung tâm logistics, đô thị sân bay Long Thành, công nghiệp công nghệ cao. Tây Ninh là cửa ngõ giao thương quốc tế với Campuchia, trung tâm kinh tế cửa khẩu, năng lượng sạch và nông nghiệp công nghệ cao.

Khi các mắt xích đó được kết nối bằng một hệ thống hạ tầng đồng bộ và một cơ chế phối hợp hiệu quả, vùng Đông Nam Bộ sẽ không chỉ có thêm những dự án lớn, mà có thể hình thành một chuỗi giá trị lớn hơn, sâu hơn và có khả năng tham gia trực tiếp vào các chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó mới là ý nghĩa lớn nhất của không gian phát triển mới: Không chỉ mở rộng địa giới, mà mở rộng năng lực tăng trưởng.

Ghi nhận thực tế cho thấy, cấu trúc hạ tầng Đông Nam Bộ đang bước sang một giai đoạn mới, khi hàng loạt dự án quy mô lớn đang hình thành một mạng lưới kết nối có khả năng tái cấu trúc không gian kinh tế toàn vùng, không còn mang tính chất riêng lẻ từng địa phương như trước đây. Cảng hàng không quốc tế Long Thành, đường Vành đai 3, Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, tuyến đường sắt kết nối Long Thành, cảng Cái Mép, cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ cùng hệ thống logistics đang từng bước kết nối các cực tăng trưởng thành một chỉnh thể.

Khu vực đô thị sân bay Long Thành quy mô khoảng 43.000 ha được kỳ vọng hình thành trung tâm dịch vụ hàng không, logistics, thương mại quốc tế, tài chính, hội nghị và các khu đô thị hiện đại. Khu thương mại tự do (FTZ) quy mô gần 7.500 ha gắn với sân bay cũng được định hướng trở thành trung tâm logistics, phân phối quốc tế và dịch vụ thương mại - tài chính - hàng không. Tiến sỹ Sử Ngọc Khương, Giám đốc Cấp cao Bộ phận Đầu tư, Savills Việt Nam cho rằng khi sân bay Long Thành đi vào vận hành cùng với mô hình FTZ, Đồng Nai có thể trở thành mắt xích trung chuyển mới của chuỗi cung ứng khu vực, đặc biệt trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp quốc tế đang tái cấu trúc mạng lưới sản xuất tại châu Á để giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.

Những yếu tố này mở ra khả năng hình thành một mô hình phát triển khác với công nghiệp truyền thống. Hàng hóa có thể được sản xuất tại Đồng Nai, tập kết tại các trung tâm logistics quanh Long Thành rồi đưa tới thị trường quốc tế thông qua đường hàng không hoặc hệ thống cảng biển nước sâu. Khi kết nối với trung tâm dịch vụ, tài chính của TP. Hồ Chí Minh, mô hình này có thể tạo thành chuỗi sản xuất - logistics - tài chính - xuất khẩu có sức cạnh tranh cao hơn.

Xác định tầm quan trọng của sân bay quốc tế Long Thành, tại buổi làm việc mới đây với tỉnh Đồng Nai, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng xác định việc đưa sân bay Long Thành vào khai thác cuối năm 2026 là nhiệm vụ ưu tiên; đồng thời, yêu cầu Đồng Nai phối hợp với các bộ, ngành và TP. Hồ Chí Minh rà soát tổng thể quy hoạch, tháo gỡ các vướng mắc về mặt bằng, thủ tục và vật liệu xây dựng. Cùng với sân bay, hàng loạt dự án kết nối như cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, Vành đai 3, Vành đai 4, đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu và các tuyến kết nối trực tiếp với sân bay cũng được yêu cầu đẩy nhanh tiến độ.

Trong cấu trúc mới, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh có thể không cần cùng phát triển những ngành giống nhau. Ngược lại, mỗi địa phương cần phát huy lợi thế riêng và kết nối với lợi thế của địa phương khác. Chính sự phân công và bổ trợ này mới tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho toàn vùng.

Từ góc độ của địa phương, Tiến sỹ Châu Vũ, Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP. Hồ Chí Minh cho rằng: Trong tương lai, năng lực cạnh tranh của TP. Hồ Chí Minh sẽ không còn được quyết định đơn thuần bởi quy mô GRDP hay tốc độ tăng trưởng ngắn hạn, mà bởi khả năng tổ chức lại toàn bộ không gian phát triển vùng Đông Nam Bộ. Khi các tuyến Vành đai 3, Vành đai 4, cao tốc liên vùng, cảng biển quốc tế và sân bay Long Thành được kết nối đồng bộ, TP. Hồ Chí Minh sẽ không còn vận hành như một đô thị độc lập, mà trở thành hạt nhân điều phối của một siêu vùng đô thị - công nghiệp - logistics lớn nhất cả nước.

Từ thực tiễn của vùng Đông Nam Bộ cho thấy, trong bối cảnh phát triển hiện nay, năng lực cạnh tranh của siêu đô thị phụ thuộc ngày càng lớn vào khả năng kết nối vùng, năng lực điều phối chuỗi giá trị và hiệu quả vận hành tổng thể của toàn bộ không gian kinh tế đô thị./.


Bài 2: Khơi thông nguồn lực để bứt phá

Tin liên quan

Tạo đà cho nguồn nhân lực từ một mạng lưới tinh gọn

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa có hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hướng tới xây dựng mạng lưới tinh gọn, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực của đất nước, từng vùng và địa phương. Theo hướng dẫn, việc sắp xếp được thực hiện nhằm bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy hoạch và nhu cầu nhân lực. Một trong những yêu cầu trọng tâm là giảm tối thiểu 30% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hoàn thành trước ngày 1/10/2026. Việc sắp xếp đồng thời hướng tới chuyển các cơ sở trực thuộc bộ, ngành về địa phương quản lý, trừ một số lĩnh vực đặc thù. 

Nuôi dưỡng nguồn thu, tạo dư địa cho tăng trưởng

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đặt ra yêu cầu ngày càng lớn về nguồn lực. Vì vậy, thu ngân sách không chỉ nằm ở quản lý chặt các khoản thu hiện hữu mà quan trọng hơn là mở rộng cơ sở thu thông qua phát triển sản xuất, kinh doanh. Khi doanh nghiệp tăng quy mô, hộ kinh doanh lớn lên, việc làm và thu nhập tăng, nguồn thu ngân sách cũng có thêm nền tảng để tăng trưởng bền vững.

Tin cùng chuyên mục

Ấn tượng chuỗi sự kiện văn hóa Việt Nam tại thủ đô nước Pháp

Theo phóng viên TTXVN tại Pháp, chuỗi hoạt động văn hóa chào mừng 81 năm Quốc khánh Việt Nam, với chương trình nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm ảnh và không gian Chợ Quê, tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở thủ đô Paris ngày 19/9, đã thu hút đông đảo cộng đồng người Việt và công chúng Pháp tham dự.

Nghị quyết 23: Kiều bào là cầu nối tự nhiên và thiết thực giữa Việt Nam và Ấn Độ

Tối 20/9, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Trịnh Minh Mạnh đã có buổi gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại bang Tamil Nadu. Trong bối cảnh Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài mới được ban hành, cuộc gặp là dịp để Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con, đồng thời trao đổi về việc phát huy nguồn lực kiều bào và tăng cường gắn kết với quê hương cũng như đóng góp cho quan hệ giữa hai nước.

Khi kiều bào trở thành “chủ thể”: Một tư duy mới về sức mạnh Việt Nam toàn cầu

Trong hành trình phát triển của dân tộc, có những thay đổi chính sách được nhận biết qua những quy định mới, nhưng cũng có những chuyển động sâu sắc hơn, được đánh dấu bằng sự thay đổi trong cách nhìn nhận về con người và nguồn lực phát triển. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài có thể được nhìn nhận từ chiều sâu ấy.

Dư địa mới trong quan hệ Việt Nam-Canada

Việt Nam và Canada đang đứng trước cơ hội đưa hợp tác khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ những dự án riêng lẻ trở thành các chương trình có sản phẩm và giá trị kinh tế cụ thể, trong đó trí tuệ nhân tạo (AI), hàng không vũ trụ và các công nghệ chiến lược có thể trở thành các lĩnh vực tạo đột phá. Đây là nhận định của PGS Vũ Việt Hưng làm việc tại Khoa Kỹ thuật Cơ khí và Hàng không Vũ trụ, Học viện Quân sự Hoàng gia Canada trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Ottawa trước thềm chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Canada.