Giải bài toán chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Bài cuối: Chuyển đổi đồng bộ từ doanh nghiệp đến hạ tầng
Nằm trong nhóm 20 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới, Việt Nam đang sở hữu dư địa lớn để mở rộng thương mại quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế đó sẽ khó được phát huy trọn vẹn nếu chi phí logistics vẫn ở mức cao.
các doanh nghiệp biển có sức cạnh tranh quốc tế cần đầu tư đồng bộ hệ thống cảng biển, logistics, trung tâm kinh tế biển, khu kinh tế ven biển và đô thị biển hiện đại. Ảnh minh họa

Nằm trong nhóm 20 nền kinh tế xuất khẩu lớn nhất thế giới, Việt Nam đang sở hữu dư địa lớn để mở rộng thương mại quốc tế. Tuy nhiên, lợi thế đó sẽ khó được phát huy trọn vẹn nếu chi phí logistics vẫn ở mức cao. Bài toán đặt ra không chỉ là tối ưu hoạt động của doanh nghiệp mà còn là hoàn thiện hạ tầng và hệ sinh thái logistics theo hướng đồng bộ, hiện đại và kết nối hiệu quả để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

*Chia sẻ nguồn lực

Kể từ sau đại dịch COVID-19, chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục biến động khó lường do ảnh hưởng từ các cuộc xung đột quân sự. Giá cước vận chuyển đường biển nhiều lần tăng cao chưa kể nhiều tuyến vận chuyển gián đoạn ở một số thời điểm căng thẳng leo thang. Để duy trì hoạt động sản xuất - xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp phải tìm cách linh hoạt thích ứng, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng kinh tế chia sẻ nhằm tối ưu hoá chi phí.

Ông Trần Quý Nhân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Xuất nhập khẩu TP.Hồ Chí Minh chia sẻ, xưởng sơ chế dừa xuất khẩu của ông tại xã Lương Phú, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động xây dựng cầu tàu ngay tại nơi sản xuất, luôn sẵn sàng nguồn hàng để sà lan bốc dỡ nhanh chóng. Doanh nghiệp cũng phối hợp chặt chẽ với đơn vị logistics để đồng bộ lịch trình, đảm bảo sà lan luôn đầy hàng cả lượt đi lẫn lượt về, triệt tiêu hoàn toàn chuyến rỗng gây lãng phí. Nhờ giải pháp này, chi phí vận chuyển một container hàng bằng sà lan từ tỉnh Vĩnh Long lên cảng Cát Lái, TP. Hồ Chí Minh đã giảm được 50%, từ 14 triệu đồng xuống chỉ còn 7 triệu đồng. Với lợi thế đường biển dài, đặc biệt khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt, doanh nghiệp cho rằng, nếu tận dụng tối đa lợi thế mạng lưới đường sông có sẵn sẽ giảm tải đáng kể cho đường bộ và hạ giá thành vận chuyển. 

Theo Hiệp hội Dệt may Thời trang TP. Hồ Chí Minh, hiện khoảng 20-30% nhu cầu logistics của doanh nghiệp dệt may vẫn được tự đầu tư thông qua hệ thống xe tải, kho bãi riêng để chủ động xử lý các đơn hàng gấp và tình huống phát sinh. Tuy nhiên, việc tự sở hữu phương tiện khiến chi phí vận hành tăng cao do tình trạng xe chạy rỗng một chiều. Xe chở hàng từ TP. Hồ Chí Minh hoặc Bình Dương ra các tỉnh phía Bắc hay cảng xuất khẩu nhưng khi quay về không có hàng, làm gia tăng chi phí trên mỗi sản phẩm.

Một rào cản lớn trong việc tối ưu hoá chi phí là tâm lý ngại thay đổi của doanh nghiệp. Nhiều đơn vị đã gắn bó với cùng một nhà cung cấp dịch vụ logistics hơn 10 năm nên dù thị trường xuất hiện nhiều giải pháp công nghệ và đơn vị cung cấp có chi phí cạnh tranh hơn, doanh nghiệp vẫn e ngại chuyển đổi vì lo ảnh hưởng đến quy trình và tiến độ giao hàng. Điều này khiến chi phí logistics cao tiếp tục kéo dài.

Trong bối cảnh doanh nghiệp phải gánh nhiều loại chi phí, ông Trần Văn Quy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thời trang TP. Hồ Chí Minh cho rằng: Doanh nghiệp không nên ôm đồm quá nhiều khâu, cần mạnh dạn thuê ngoài dịch vụ logistics để tập trung vào hoạt động cốt lõi là thiết kế, sản xuất và quản lý chất lượng. Đồng thời, tăng cường ứng dụng mô hình logistics dùng chung giữa các ngành như dệt may, gỗ, da giày nhằm tối ưu phương tiện vận tải, hạn chế xe chạy rỗng. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả cơ chế chia sẻ, cần xây dựng nền tảng số kết nối phương tiện và kho bãi, đồng bộ dữ liệu giữa doanh nghiệp, cảng biển và hãng tàu; đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm thủ tục, rút ngắn thời gian vận chuyển.Ở góc độ hiệp hội doanh nghiệp logistics, bà Đặng Minh Phương cũng đề xuất, đẩy mạnh áp dụng mô hình kinh tế chia sẻ theo hệ thống nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực. Theo đó, cần hình thành các trung tâm logistics phức hợp, phân theo từng nhóm ngành hàng chuyên biệt như thủy sản, chế biến gỗ, dệt may, da giày, hóa chất...Tại các trung tâm này, doanh nghiệp có thể sử dụng chung hệ thống kho bãi, phương tiện vận tải và thực hiện gom hàng để tối ưu công suất vận chuyển. Khi sản lượng hàng hóa đủ lớn, chi phí logistics sẽ giảm đáng kể nhờ tận dụng lợi thế quy mô.

Bà Đặng Minh Phương dẫn chứng, các doanh nghiệp chế biến gỗ có thể cùng mua nguyên liệu với khối lượng lớn để giảm chi phí đầu vào; trong khi các doanh nghiệp hóa chất, vốn có yêu cầu đặc thù về bảo quản, môi trường và kiểm tra chuyên ngành, có thể tập trung hàng hóa tại các trung tâm logistics chuyên biệt để tiết kiệm đáng kể chi phí vận hành. Doanh nghiệp cũng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh. Trước hết, cần đẩy mạnh phát triển vận tải đa phương thức nhằm khai thác lợi thế của từng loại hình vận tải, qua đó giảm chi phí và nâng cao hiệu quả khai thác. Cùng với đó là thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý chuỗi cung ứng, dự báo nhu cầu, tối ưu hóa tuyến vận chuyển và nâng cao chất lượng dịch vụ.

* Kết nối hạ tầng 

Sự linh hoạt chuyển dịch của doanh nghiệp mới chỉ là những giải pháp mang tính vi mô, trong khi bức tranh dài hạn của ngành logistics vẫn phụ thuộc lớn vào các định hướng hạ tầng mang tầm vĩ mô.  Để kéo giảm chi phí, bên cạnh việc tối ưu nguồn lực nội tại thông qua các mô hình liên kết, cộng đồng doanh nghiệp đang rất mong chờ sự bứt phá tiến độ trong việc hoàn thiện hạ tầng kết nối cảng biển, đặc biệt là mạng lưới đường sắt và đường thủy nội địa.

Ông Lê Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh cho biết, Thành phố đang quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kết nối hạ tầng giao thông nhằm kéo giảm chi phí logistics xuống còn 11% - 14% vào năm 2030. Trọng tâm chiến lược là phát triển hệ thống giao thông đa phương thức, bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không và cảng biển. Từ nay đến năm 2030, bên cạnh việc đẩy nhanh các tuyến đường vành đai, cao tốc kết nối TP. Hồ Chí Minh với Mộc Bài, Cần Thơ, Long Thành... hạ tầng đường sắt và đường thủy nội địa sẽ được ưu tiên đẩy mạnh. Trong đó, dự án tuyến đường sắt kết nối các khu công nghiệp khu vực Bình Dương với cụm cảng Cái Mép - Thị Vải được xác định là dự án chiến lược nhằm rút ngắn tối đa thời gian và chi phí vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu.

Thành phố cũng đang kiến nghị Bộ Xây dựng quy hoạch, nạo vét, mở rộng mạng lưới tuyến vận tải thủy nội địa kết nối các vùng nguyên liệu, sản xuất từ Đồng bằng sông Cửu Long với các cảng biển trên địa bàn, nhằm giảm tải áp lực lên vận chuyển đường bộ, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và lưu thông hàng hoá nhanh hơn.

Trong Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hoá giai đoạn 2026-2030 mới được ban hành, UBND TP. Hồ Chí Minh xác định phát triển hạ tầng logistics là một trong những trụ cột để nâng cao năng lực cạnh tranh của hoạt động xuất nhập khẩu. Theo đó, việc phát triển xuất nhập khẩu sẽ gắn chặt với đầu tư hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, cảng biển, logistics, khu thương mại tự do, chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh nhằm nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Về huy động nguồn lực, UBND TP. Hồ Chí Minh giao Sở Tài chính lồng ghép các dự án ưu tiên về logistics, hạ tầng kho bãi, trung tâm logistics, cơ sở thử nghiệm - thí nghiệm và hạ tầng số vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm của thành phố. Đồng thời, thành phố sẽ ưu tiên bố trí ngân sách cho các chương trình phát triển hạ tầng logistics, nâng cao năng lực đánh giá sự phù hợp và các hoạt động hỗ trợ xuất nhập khẩu.

TP. Hồ Chí Minh cũng sẽ phát triển các khu thương mại tự do với cơ chế giao dịch thông thoáng hơn, gắn với trung tâm logistics tích hợp, cụm cảng trung chuyển quốc tế, sân bay hàng hóa và các mô hình logistics phục vụ thương mại điện tử xuyên biên giới. Thành phố đồng thời đầu tư nâng cấp hệ thống cảng vệ tinh, cảng dọc sông Sài Gòn, mạng lưới cảng cạn (ICD); hoàn thiện hạ tầng giao thông đa phương thức, tăng kết nối giữa cảng biển, sân bay, ga đường sắt với khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm logistics và vùng nguyên liệu xuất khẩu. 

Bên cạnh đầu tư hạ tầng, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, điều hành giao thông và cảng biển cũng là giải pháp được thành phố quan tâm; triển khai các giải pháp giao thông thông minh, ưu tiên luồng vận tải hàng hóa tại các cửa ngõ và đầu mối logistics để bảo đảm lưu thông thông suốt, an toàn và hiệu quả.

Các doanh nghiệp chia sẻ, phương án phát triển hạ tầng các cụm cảng, khu thương mại tự do hay hệ thống kho bãi quy mô đã được đề cập từ khá lâu nhưng triển khai thực tế rất chậm. Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng các cơ chế chính sách mới như Nghị quyết 260/2025/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh, Nghị quyết 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới cùng với Luật Phát triển đô thị sắp tới sẽ thúc đẩy phát triển hệ sinh thái logistics - thương mại - dịch vu một cách đồng bộ, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế./.

Tin liên quan

Quy Nhơn mở không gian phát triển mới

Từ trung tâm đô thị biển của Bình Định trước đây, Quy Nhơn đang được định vị trở thành vùng động lực tăng trưởng của tỉnh Gia Lai. Những định hướng mới được lãnh đạo tỉnh đặt ra cho khu vực này không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn hướng tới hình thành một cấu trúc kinh tế thống nhất, kết nối đô thị, du lịch, kinh tế biển, dịch vụ và logistics.

Công nghiệp xanh cần hạ tầng số

Từ thực tế trong phát triển hạ tầng công nghiệp nhà kho, nhà xưởng xây sẵn theo định hướng xanh và hiện đại, cộng đồng doanh nghiệp cho biết, bài toán chi phí cho công nghiệp xanh hiện nay không phải là lựa chọn giữa tiết kiệm chi phí và đầu tư vào logistics hiện đại. Vấn đề quan trọng hơn của doanh nghiệp, là làm thế nào để tiếp cận được một nền tảng hạ tầng phù hợp, từng bước nâng cao khả năng thích ứng với những yêu cầu xanh trong và ngoài nước.

Tin cùng chuyên mục

Giải bài toán chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Bài 1: Áp lực chi phí tăng cao

Hệ sinh thái và chi phí logistics là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Làm thế nào để kéo giảm chi phí logistics, cải thiện biên lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy xuất nhập khẩu là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh cả nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Thứ trưởng Trần Quốc Phương: Nguồn vốn ODA tiếp tục là động lực cho các dự án hạ tầng chiến lược

Đầu tư công tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vẫn giữ vai trò đáng kể đối với nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân nguồn vốn này vẫn chưa đạt kỳ vọng do nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai. Ngày 17/7, trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương đã làm rõ những nguyên nhân, giải pháp tháo gỡ cũng như định hướng nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng ODA trong thời gian tới.

Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm: Chuyển dịch từ "lượng" sang "chất" qua góc nhìn ADB

Kinh tế Việt Nam ghi nhận sức bật mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2026 với tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng đạt 8,18%. Các chuyên gia hàng đầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định rằng để duy trì đà bứt phá này một cách bền vững trong trung và dài hạn, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên hiệu quả và năng suất thay vì thâm dụng các yếu tố đầu vào truyền thống đã trở thành yêu cầu mang tính cấp bách.

Học sinh tình nguyện hè lan tỏa những việc làm vì cộng đồng

Mỗi dịp hè, Chiến dịch tình nguyện "Hoa phượng đỏ" lại trở thành môi trường để học sinh phát huy tinh thần xung kích, trách nhiệm với cộng đồng. Tại Đồng Nai, hàng trăm học sinh đã tham gia nhiều hoạt động thiết thực, góp phần lan tỏa những việc làm ý nghĩa trong dịp nghỉ hè.

Viết tiếp hành trình của áo dài Việt với sức sống mới

Huế đang từng bước đưa áo dài trở lại đời sống bằng nhiều hoạt động bảo tồn, phục dựng và sáng tạo. Từ không gian di sản đến những con phố, tà áo truyền thống ngày càng hiện diện gần gũi, lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc, góp phần khẳng định vị thế “Kinh đô áo dài” và hiện thực hóa khát vọng đưa áo dài trở thành quốc phục của Việt Nam.

Kiến tạo vùng phát thải thấp, xây dựng Thủ đô xanh, văn minh

Việc Hà Nội chính thức triển khai Đề án vùng phát thải thấp (LEZ) trong khu vực Vành đai 1 không chỉ đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản lý môi trường đô thị mà còn thể hiện quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu của Luật Thủ đô năm 2026, hướng tới xây dựng Thủ đô xanh, văn minh và phát triển bền vững. Điều đáng ghi nhận là ngay sau khi Đề án được ban hành, thành phố đã đồng loạt triển khai nhiều giải pháp từ hạ tầng, tổ chức giao thông, ứng dụng công nghệ đến tuyên truyền, tạo sự đồng thuận của người dân.

Áp lực nguồn vốn lớn, TP. Hồ Chí Minh tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công

Năm 2026, TP. Hồ Chí Minh được Thủ tướng Chính phủ giao gần 147.600 tỷ đồng vốn đầu tư công - mức cao nhất trong 34 địa phương, chiếm gần 15% tổng kế hoạch vốn đầu tư công của cả nước. Cùng với việc thúc đẩy giải ngân ở các công trình, dự án quy mô lớn, Thành phố tập trung đôn đốc các chủ đầu tư, từ các sở ngành đến từng phường, xã, đặc khu nhằm hoàn thành mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch vốn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng ở mức hai con số.

An cư khi rời... nóc núi

Điều quý giá nhất không nằm ở ngôi nhà mới hay những công trình vừa được xây dựng mà là cuộc sống của người dân thực sự bước sang một trang khác.

Lá chắn cho hàng Việt

Xuất khẩu càng tăng trưởng, nguy cơ đối mặt với các vụ điều tra phòng vệ thương mại càng hiện hữu. Khi các nền kinh tế liên tục dựng lên hàng rào mới để bảo vệ sản xuất trong nước, việc xây dựng lá chắn đủ mạnh cho hàng Việt không còn là giải pháp tình thế mà trở thành yêu cầu chiến lược để giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu dài hạn.