![]() |
| TS. Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng Phòng Kinh tế Năng lượng, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Văn Giáp/Bnews/vnanet.vn |
Sự kiện ghi nhận sự tham dự trực tiếp của phái đoàn ngoại giao cấp cao từ Đại sứ quán Liên bang Nga, Đại sứ quán Ấn Độ, cùng các chuyên gia và lãnh đạo công ty hạt nhân hàng đầu thế giới đến từ Nga và kết nối trực tuyến từ đầu cầu Canada.
Tại hội thảo, TS. Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng Phòng Kinh tế Năng lượng, Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cho biết, trong khoảng 15 năm qua, dù bối cảnh thế giới liên tục biến động, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao.
Đi cùng với đà tăng trưởng GDP là nhu cầu năng lượng, đặc biệt là nhu cầu điện, gia tăng mạnh mẽ. Tiêu thụ điện bình quân đầu người liên tục đi lên, phản ánh xu hướng điện hóa ngày càng rõ nét của nền kinh tế. Theo đó, tỷ trọng điện trong tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đã tăng từ khoảng 18% lên gần 30%, tức khoảng 1/3 nhu cầu năng lượng của nền kinh tế hiện nay đến từ điện.
Ông Hưng cho rằng, xu hướng điện hóa đang diễn ra mạnh ở hầu hết các lĩnh vực. Trong khu vực tòa nhà và dân dụng, điện gần như trở thành nguồn năng lượng chủ đạo cho sinh hoạt và đun nấu.
Trong thời gian tới, cùng với yêu cầu chuyển dịch năng lượng và mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, xu hướng sử dụng điện trong công nghiệp và giao thông vận tải cũng sẽ tăng nhanh. Điều này đồng nghĩa nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng mạnh để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, nhu cầu điện giữa các vùng miền đang có sự phân hóa rõ rệt. Giai đoạn 2016-2025, khu vực miền Bắc ghi nhận mức tăng trưởng phụ tải cao hơn đáng kể so với miền Trung và miền Nam. Riêng nhu cầu điện cho công nghiệp tại miền Bắc tăng khoảng 9%, còn thương mại - dịch vụ tăng tới 9,5%, trong khi hai khu vực này ở miền Trung và miền Nam chỉ tăng khoảng 6-7%. Theo TS. Nguyễn Ngọc Hưng, xu hướng miền Bắc thu hút mạnh công nghiệp đang tạo áp lực lớn lên việc bố trí nguồn điện theo vùng miền.
Trong khi đó, khả năng phát triển thêm các nguồn điện truyền thống tại miền Bắc lại gặp nhiều hạn chế. Nhiệt điện than gần như đã khai thác hết dư địa phát triển, còn điều kiện cho điện gió và điện mặt trời cũng không thuận lợi bằng miền Trung và miền Nam. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải có các loại hình nguồn điện linh hoạt hơn về quy mô và địa điểm để bám sát tăng trưởng phụ tải tại miền Bắc.
Ông Hưng cho rằng việc xây dựng thêm các nhà máy nhiệt điện lớn ở khu vực trung du, miền núi hay Đồng bằng sông Hồng là rất khó do hạn chế về quỹ đất, hạ tầng và điều kiện tự nhiên. Đồng thời, cũng không thể truyền tải điện tái tạo từ miền Trung, miền Nam ra miền Bắc bởi việc xây dựng hạ tầng truyền tải, đặc biệt qua khu vực Quảng Trị, Hà Tĩnh sẽ đối mặt nhiều khó khăn.
Liên quan đến an ninh năng lượng, TS. Nguyễn Ngọc Hưng cho biết Việt Nam hiện phụ thuộc ngày càng lớn vào năng lượng nhập khẩu. Nếu năm 2010 Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu ròng năng lượng, với xuất siêu khoảng 17,6% nhờ xuất khẩu than và dầu thô, thì đến năm 2015 đã chuyển sang nhập khẩu ròng với mức phụ thuộc khoảng 8,4%. Đến năm 2025, tỷ lệ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu đã vượt 43%. Hiện chi phí cho nhập khẩu năng lượng tương đương khoảng 4,5% GDP.
Theo ông Hưng, những biến động địa chính trị toàn cầu và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng thời gian qua đã trở thành “phép thử” đối với khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng Việt Nam.
Bài toán an ninh năng lượng hiện không chỉ là bảo đảm đủ nguồn cung ổn định, liên tục mà còn phải duy trì khả năng chi trả của người dân và doanh nghiệp. Ông Hưng cho rằng mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng hiện nay đã ở mức đáng báo động, do đó việc giảm dần phụ thuộc nhập khẩu cần trở thành ưu tiên trong chiến lược an ninh năng lượng quốc gia.
Bên cạnh đó, Việt Nam hiện cũng chưa có hệ thống dự trữ chiến lược đủ lớn đối với xăng dầu và dầu thô. Dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực xây dựng các kho dự trữ xăng dầu trong thời gian qua, song dư địa vẫn còn hạn chế. Theo TS. Nguyễn Ngọc Hưng, việc phát triển các nguồn năng lượng có khả năng dự trữ nhiên liệu dài hạn, như nhiên liệu hạt nhân có thể dự trữ trong nhiều năm, cũng là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng và nền kinh tế trước các biến động toàn cầu.
Ông Đào Quang Bính, Tổng giám đốc VnEconomy khẳng định Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử của ngành năng lượng toàn cầu. Theo báo cáo từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), thế giới không chỉ đối mặt với cuộc khủng hoảng khí hậu mà còn chịu áp lực nặng nề từ sự đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng truyền thống. Trong bối cảnh đó, cam kết Net Zero vào năm 2050 đã chính thức trở thành một 'luật chơi mới' chi phối toàn bộ dòng chảy thương mại và đầu tư quốc tế.
Tại Việt Nam, bài toán an ninh năng lượng đã trở thành vấn đề sống còn. Việt Nam không chỉ cần năng lượng để tăng trưởng, mà cần một nguồn năng lượng thực sự sạch, ổn định và tự chủ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu các mô hình triển khai Lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) hiện nay đang gắn liền với tiến trình hiện thực hóa các kịch bản năng lượng mới trong Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh.

