Mở dư địa tăng trưởng, không buông quản trị rủi ro
Việc tách một số khoản vay nhà hàng, khách sạn, du lịch, nghỉ dưỡng và dự án trọng điểm khỏi hạn mức tín dụng phải kiểm soát đang mở thêm dư địa cấp vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nới dư địa phải đi đôi với kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và rủi ro.

Việc tách một số khoản vay nhà hàng, khách sạn, du lịch, nghỉ dưỡng và dự án trọng điểm khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng mở thêm dư địa cấp vốn cho nền kinh tế. Ảnh minh họa: Hoàng Hiếu/TTXVN


Việc tách một số khoản cho vay nhà hàng, khách sạn, du lịch, nghỉ dưỡng và các dự án trọng điểm khỏi hạn mức tăng trưởng tín dụng (room) đang tạo thêm dư địa cho ngân hàng mở rộng cho vay. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng việc “bóc tách” này chỉ có ý nghĩa khi đi cùng cơ chế thẩm định, giải ngân và giám sát chặt chẽ, tránh biến dư địa tín dụng thành nguồn vốn dễ dãi.

*Mở room cho động lực tăng trưởng

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, đến ngày 30/9, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và 16,69% so với cùng kỳ. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, bài toán đặt ra là vừa mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, vừa giữ được an toàn hệ thống và kiểm soát lạm phát.

Một trong những giải pháp được Ngân hàng Nhà nước triển khai là tạo dư địa cho các tổ chức tín dụng cấp vốn vào một số lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng. Theo đó, dư nợ phát sinh đối với nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất; nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng không phải tính vào dư nợ tín dụng bất động sản phải kiểm soát. Tương tự, không tính vào dư nợ tín dụng chung phải kiểm soát khi cấp tín dụng đối với doanh nghiệp để triển khai, đầu tư các dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương để thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.

Điểm đáng chú ý là cơ chế này không đồng nghĩa ngân hàng được bỏ qua giới hạn tín dụng hay chất lượng khoản vay. Về bản chất, đây là cách phân loại và quản lý để những khoản tín dụng có tính chất đặc thù, phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh và tạo ra dòng tiền, không bị “chen chỗ” hoàn toàn với nhóm tín dụng bất động sản mang tính đầu tư, kinh doanh khác.

Chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, việc tách tín dụng du lịch khỏi room bất động sản là hợp lý khi lĩnh vực này đang có dư địa tăng trưởng và nhiều dự án có khả năng tạo dòng tiền. Khi không còn bị tính trực tiếp vào dư nợ bất động sản phải kiểm soát, ngân hàng có thêm không gian giải ngân cho doanh nghiệp đầu tư cơ sở lưu trú, dịch vụ và hạ tầng du lịch.

Với các dự án trọng điểm, lợi ích còn rõ hơn. Theo ông Phong, nhiều dự án lớn chỉ có khoảng 15% vốn chủ đầu tư, phần còn lại phụ thuộc đáng kể vào tín dụng ngân hàng. Nếu toàn bộ các khoản vay này đều tính vào room bất động sản, ngân hàng có thể nhanh chóng chạm giới hạn, từ đó thu hẹp khả năng cấp vốn cho những lĩnh vực khác. Việc bóc tách các khoản vay mang tính chính sách và có tính lan tỏa vì vậy giúp tránh tình trạng một dự án lớn “chiếm chỗ” quá nhiều trong room tín dụng.

Không gian nghỉ dưỡng cao cấp của Vinpearl Resort & Golf Phú Quốc tại đặc khu Phú Quốc. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN

*Tách room, không tách rủi ro

Theo ông Lê Quốc Minh, Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), việc loại tín dụng nhà hàng, khách sạn, nghỉ dưỡng khỏi nhóm bất động sản sẽ tạo thêm dư địa cho ngân hàng và doanh nghiệp, nhất là với những ngành dịch vụ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc không tính khoản vay vào một room nhất định không làm thay đổi trách nhiệm của ngân hàng đối với chất lượng khoản tín dụng.

Ông Minh cho rằng khi thẩm định dự án, ngân hàng vẫn phải đánh giá đầy đủ tính pháp lý, năng lực chủ đầu tư và khả năng hoàn vốn. Đây là “hàng rào” không thể bỏ qua, dù khoản vay có được hưởng cơ chế room riêng hay không.

TS. Nguyễn Minh Phong cũng lưu ý rủi ro lớn nhất không nằm ở việc tách room, mà ở cách ngân hàng giải ngân và giám sát sau cho vay. Theo ông, vốn phải được giải ngân theo tiến độ và nhu cầu thực tế của dự án, thay vì giải ngân một lần hoặc quá dễ dãi, qua đó hạn chế nguy cơ sử dụng vốn sai mục đích.

Đồng thời, các khoản vay thuộc nhóm đặc thù cần được đặt dưới cơ chế minh bạch thông tin, báo cáo và kiểm tra thường xuyên. Với những dự án quy mô lớn, ngân hàng cần xây dựng tiêu chí quản trị riêng và các kịch bản xử lý khi tiến độ dự án, dòng tiền hoặc năng lực tài chính của chủ đầu tư diễn biến bất lợi.

Yêu cầu này càng đáng lưu ý khi tín dụng bất động sản đang tăng nhanh. Theo Bộ Xây dựng, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng đối với hoạt động kinh doanh bất động sản đạt hơn 2,519 triệu tỷ đồng, tăng 12,71% so với cuối quý I, tương đương tăng hơn 284.000 tỷ đồng chỉ trong một quý. Đáng chú ý, tín dụng cho các dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất tăng 32,38%, trong khi dư nợ cho các dự án khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng lại giảm 4,35%, tín dụng dành cho dự án nhà hàng, khách sạn giảm 0,16%.

Những con số này cho thấy “tách room” thực chất là một bước phân loại lại dòng vốn, thay vì chuyển từ kiểm soát sang thả nổi. Các khoản vay được ưu tiên có thể được tạo điều kiện tiếp cận vốn tốt hơn, nhưng vẫn phải chịu đầy đủ các yêu cầu về thẩm định, chất lượng tín dụng, an toàn vốn và quản trị rủi ro.

Trong những tháng cuối năm, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng; hướng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng tại những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Bài toán vì thế không phải là “mở hay đóng room”, mà là mở đúng chỗ và kiểm soát đúng rủi ro. Khi khoản tín dụng được tách khỏi giới hạn chung nhưng vẫn nằm trong một quy trình thẩm định, giải ngân và giám sát chặt chẽ, room tín dụng mới thực sự trở thành công cụ phân bổ vốn cho tăng trưởng thay vì nguồn rủi ro mới cho hệ thống.

Tin liên quan

Chặn tín dụng “sân sau”: Không phải là “khẩu hiệu ảo”!

Khi tín dụng ngân hàng vẫn là một trong những kênh cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế, yêu cầu chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào doanh nghiệp, dự án thuộc hệ sinh thái hoặc “sân sau” của tập đoàn không chỉ là yêu cầu về an toàn hệ thống tín dụng. Sâu xa hơn, đó là yêu cầu thiết lập lại kỷ luật thị trường với phương châm vốn phải được phân bổ dựa trên chất lượng dự án và hiệu quả sử dụng, thay vì quan hệ sở hữu hay lợi ích. Những chính sách, những quy định đang tạo lập một thị trường tài chính lành mạnh và minh bạch không phải là một câu chuyện “nói cho vui” hay là “khẩu hiệu ảo” như một số luận điệu xuyên tạc, hoài nghi.

Tín dụng chính sách xã hội: Động lực vững chắc cho kỷ nguyên phát triển mới

Từ một công cụ hỗ trợ giảm nghèo, tín dụng chính sách xã hội đang được đặt trong một tầm nhìn phát triển rộng hơn. Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu mở rộng tín dụng chính sách xã hội phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của Việt Nam, gắn an sinh với phát triển con người và mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau. Từ tạo sinh kế, việc làm đến đầu tư cho giáo dục, nguồn nhân lực khoa học công nghệ và chuyển đổi số, dòng vốn chính sách đang mở rộng cơ hội để người dân không chỉ vượt qua khó khăn, mà chủ động tham gia và thụ hưởng thành quả của kỷ nguyên phát triển mới.

Kết nối tín dụng xanh với thị trường carbon

Việc kết nối tín dụng xanh với thị trường carbon được kỳ vọng mở thêm nguồn lực cho quá trình chuyển đổi xanh, đồng thời tạo cơ sở để các ngân hàng đánh giá, quản lý hiệu quả hơn dòng vốn dành cho các dự án giảm phát thải. Đây là một trong những nội dung được thảo luận tại Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức sáng 14/10 ở Hà Nội.

Tin cùng chuyên mục

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4

TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Quy định 224-QĐ/TW: Khơi thông nguồn lực phát triển - Bài 2: Không thể đánh đồng làm giàu chính đáng với trục lợi

Việc chuyển từ tư duy quản lý từ "cho phép" sang "khuyến khích, tạo điều kiện" cho đảng viên làm kinh tế thể hiện ở Quy định số 224-QĐ/TW đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy phát triển. Không chỉ giải phóng các nguồn lực tiềm ẩn, chủ trương này còn mở ra không gian kinh tế mới. Thế nhưng, có lập luận sai lệch, phiến diện cho rằng việc "khuyến khích, tạo điều kiện cho đảng viên làm kinh tế và làm giàu" sẽ làm phai nhạt bản chất của Đảng và tạo kẽ hở cho tư lợi, tham nhũng.

Quy định 224-QĐ/TW: Khơi thông nguồn lực phát triển - Bài 1: Bước đột phá trong tư duy lãnh đạo kinh tế

Từ những quyết sách lịch sử của 40 năm Đổi mới đến bước ngoặt tại Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, tư duy của Đảng về đảng viên làm kinh tế đã đi qua một hành trình bứt phá. Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh (Quy định số 224-QĐ/TW) được Trung ương ban hành ngày 14/10 đã chuyển từ "cho phép" đến "khuyến khích, tạo điều kiện". Quy định mới nhằm tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực phát triển đất nước.

Nghị quyết 10-NQ/TW: Đà Nẵng tạo cực tăng trưởng mới từ dòng vốn FDI

Với môi trường đầu tư thân thiện cùng hệ thống hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ, thành phố Đà Nẵng đang thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đến nghiên cứu, tìm hiểu đầu tư dự án. Qua đó, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đóng góp tích cực vào nguồn thu ngân sách nhà nước.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Công nghệ số mở rộng cánh cửa thị trường

Tỉnh Đồng Tháp hiện có 416 hợp tác xã nông nghiệp, 1.040 tổ hợp tác nông nghiệp và 155 hội quán, hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp – thủy sản, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản chủ lực của tỉnh. Trong xu thế chuyển đối số trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều hợp tác xã đã mạnh dạn ứng dụng khoa học công nghệ trong khâu sản xuất đến tiêu thụ để mở ra hướng sản xuất kinh doanh mới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nghị quyết 70-NQ/TW: Các dự án năng lượng tạo động lực cho kinh tế Quảng Ninh

Nhằm mở rộng không gian phát triển cho ngành năng lượng, ngày 15/10 vừa qua, Chủ tịch UBND thành phố Quảng Ninh đã có buổi làm việc và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác với liên danh nhà đầu tư nghiên cứu dự án Nhà máy điện LNG Quảng Ninh 2 tại phường Cửa Ông. Dự án có quy mô 118 ha, tổng mức đầu tư ước tính khoảng 1,93 tỷ USD, bao gồm 2 tổ máy công suất 750 MW với sản lượng điện dự kiến đạt 9 tỷ kWh/năm.