Nghị quyết 70-NQ/TW: Lưới điện thông minh trước yêu cầu tích hợp năng lượng tái tạo
Hội nghị quốc tế về Năng lượng và Ứng dụng lần thứ 9 (The 9th ASEAN Smart Grid Congress – ASGC9) do Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì tổ chức, diễn ra từ ngày 5 đến 7/11/2026 tại Hà Nội, tập trung trao đổi về phát triển lưới điện thông minh, tích hợp năng lượng tái tạo, quản lý năng lượng và giao thông điện hóa.
Hội nghị quốc tế về Năng lượng và Ứng dụng lần thứ 9 (The 9th ASEAN Smart Grid Congress – ASGC9) do Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì tổ chức. Ảnh: Bnews/vnanet.vn

Phát triển lưới điện thông minh đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng, xe điện phát triển và quá trình điện hóa diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Lưới điện không chỉ cần được hiện đại hóa về giám sát mà còn phải nâng cao khả năng điều khiển, dự báo và thích ứng với biến động của nguồn điện tái tạo, phụ tải.

PGS. Nguyễn Đức Tuyên, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, Việt Nam đã có lộ trình phát triển lưới điện thông minh theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng lộ trình phát triển lưới điện thông minh mới và lộ trình này sắp được thông qua. Theo PGS. Nguyễn Đức Tuyên, ở những giai đoạn đầu, việc đầu tư lưới điện thông minh chủ yếu tập trung vào hệ thống SCADA và giám sát. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ và yêu cầu tích hợp ngày càng nhiều nguồn năng lượng tái tạo vào hệ thống, lưới điện đang xuất hiện những vấn đề mới cần được xử lý.

Khi tích hợp nhiều điện mặt trời và điện gió, hệ thống điện cần có các công nghệ để xử lý những vấn đề phát sinh. Trong tương lai, khi hệ thống điện sử dụng phần lớn năng lượng tái tạo, yêu cầu triển khai các công nghệ này càng trở nên cần thiết, thay vì chỉ dừng ở việc giám sát bằng hệ thống SCADA như trước đây.

PGS. Nguyễn Đức Tuyên cho rằng Việt Nam sẽ phải đầu tư nhiều công nghệ từ nước ngoài, đồng thời cần tính đến việc chủ động, làm chủ công nghệ trong thời gian tới. Để thực hiện mục tiêu này, cần có sự phối hợp giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), các đơn vị điện lực với các trường đại học và viện nghiên cứu.

Đề cập mức độ phát triển lưới điện thông minh của Việt Nam, PGS. Nguyễn Đức Tuyên cho biết, nếu xét theo các chỉ tiêu đánh giá, Việt Nam được coi là một nước có lưới điện khá thông minh, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Hà Nội hiện cũng đầu tư nhiều cho lĩnh vực này. Ba thành phố lớn đang phát triển lưới điện theo các chỉ tiêu của Singapore. Theo ông Tuyên, nếu làm chủ được công nghệ, lưới điện Việt Nam sẽ có vị thế lớn, không chỉ trong ASEAN mà còn trên thế giới.

PGS. Nguyễn Đức Tuyên, Đại học Bách khoa Hà Nội. Ảnh: Bnews/vnanet.vn

Cùng đề cập vai trò của lưới điện thông minh trong chuyển dịch năng lượng, TS. Nguyễn Đình Hòa, giảng viên Khoa Tự động hóa, Trường Điện - Điện tử, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, các quốc gia trên thế giới; trong đó có Việt Nam, đều đang hướng tới xây dựng hệ thống năng lượng có mức phát thải thấp, với mục tiêu giảm lượng khí thải.

Theo TS. Nguyễn Đình Hòa, lưới điện thông minh là một phần quan trọng để đạt được mục tiêu này. Đây cũng là xu thế nghiên cứu và phát triển không chỉ tại Việt Nam mà còn ở các quốc gia Đông Nam Á và nhiều nước khác trên thế giới.

Ông Hòa cho biết Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á có nhiều nét tương đồng về vị trí địa lý, khí hậu; trong đó có thể kể đến Việt Nam, Thái Lan, Lào và Malaysia. Vì vậy, hội nghị được tổ chức nhằm chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức giữa các quốc gia trong khu vực, hướng tới mục tiêu cùng phát triển và đạt được mục tiêu phát thải thấp.

Ở góc độ kinh nghiệm quốc tế, GS. Mahdi Jalili, Đại học RMIT, Australia cho rằng, để giảm phát thải, không có lựa chọn nào khác ngoài việc sản xuất điện từ năng lượng tái tạo, điện hóa hệ thống giao thông, hộ gia đình và doanh nghiệp. Theo GS. Mahdi Jalili, một số lĩnh vực có thể thực hiện tương đối dễ dàng với công nghệ hiện tại, nhưng công nghiệp nặng và công nghiệp chế biến kim loại vẫn là những lĩnh vực đầy thách thức. Dù vậy, quá trình điện hóa vẫn phải được thực hiện nếu muốn giảm lượng phát thải.

GS. Mahdi Jalili dẫn chứng tại bang Victoria, Australia, khí gas đã bị cấm sử dụng tại các ngôi nhà xây mới và tất cả các dự án phát triển mới đều phải điện hóa hoàn toàn. Quá trình điện hóa giao thông cũng đang diễn ra nhanh chóng.

Theo GS. Mahdi Jalili, tốc độ phát triển xe điện đặt ra những thách thức đối với lưới điện. Một trong những nội dung nghiên cứu của nhóm GS. Mahdi Jalili là sự thay đổi mức tiêu thụ điện khi tỷ lệ sở hữu xe điện tăng, khả năng nhận diện xe điện từ dữ liệu công tơ thông minh, các giải pháp sạc thông minh cho xe điện, xe buýt điện và phương pháp ước tính biểu đồ phụ tải sạc.

Theo GS. Mahdi Jalili, các doanh nghiệp vận tải thường phải đầu tư hàng triệu USD để mua xe điện và lắp đặt hệ thống sạc tại các depot (bãi đỗ tập trung, nơi quản lý và sạc các phương tiện). Tuy nhiên, trước khi đầu tư, điều quan trọng là phải xác định nhu cầu sạc thực tế, gồm cần bao nhiêu công suất, sạc ở đâu và sạc vào thời điểm nào.

Nhóm nghiên cứu đã sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và máy học (machine learning) để ước tính nhu cầu sạc của đoàn xe buýt. Dù dữ liệu thu thập còn hạn chế, chỉ có dữ liệu trạng thái sạc của một xe buýt điện trong hai năm, nhóm đã mở rộng mô hình cho gần 1.700 tuyến xe buýt tại bang Victoria. Người sử dụng chỉ cần nhập tên tuyến xe buýt và lựa chọn mùa hè, mùa đông hoặc mùa thu, hệ thống sẽ đưa ra nhu cầu sạc của tuyến xe đó trong một ngày tương ứng.

Theo GS. Mahdi Jalili, công cụ này giúp các công ty vận hành xe buýt xác định công suất sạc cần thiết, từ đó tính toán vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và xây dựng trạm sạc. Hiện mô hình đang được Bộ Giao thông và Quy hoạch bang Victoria áp dụng, đồng thời yêu cầu các đơn vị vận hành xe buýt sử dụng trước khi triển khai.

Bên cạnh quản lý phụ tải xe điện, GS. Mahdi Jalili cũng chia sẻ về khái niệm Biên độ Vận hành Linh hoạt (Dynamic Operating Envelopes - DOE), được nghiên cứu và phát triển tại Australia khoảng 7 - 8 năm trước và hiện được các đơn vị quản lý lưới điện tại nước này ứng dụng rộng rãi, đồng thời lan rộng sang nhiều quốc gia khác.

GS. Mahdi Jalili cho biết khoảng 45% hộ gia đình tại Australia đã lắp đặt điện mặt trời mái nhà, nhưng chỉ khoảng 20% số nhà có pin lưu trữ, còn lại 80% chưa có. Vào những thời điểm thời tiết nắng đẹp nhưng nhu cầu sử dụng điều hòa chưa cao, lượng điện tiêu thụ tại chỗ thấp, điện mặt trời dư thừa sẽ phát ngược lên lưới. Điều này có thể gây quá áp và ảnh hưởng đến khả năng chịu tải của lưới điện.

Giải pháp DOE cho phép các đơn vị quản lý lưới điện kết nối với bộ biến tần (inverter) để điều chỉnh linh hoạt công suất phát ngược. Thay vì duy trì mức phát ngược tối đa 5 kW, công suất có thể được điều chỉnh xuống 4 kW hoặc 3 kW tùy từng thời điểm. Theo GS. Mahdi Jalili, cách quản lý này giúp xử lý tình trạng quá áp mà không phải tốn chi phí nâng cấp máy biến áp hoặc cải tạo hạ tầng lưới điện. Nguyên lý này cũng có thể áp dụng đối với xe điện và quá trình điện hóa toàn diện.

GS. Mahdi Jalili, Đại học RMIT, Australia. Ảnh: Bnews/vnanet.vn

Từ kinh nghiệm của Thái Lan, bà Munlika Sompranon, đến từ Bộ Năng lượng Thái Lan cho biết, nước này đang triển khai các mục tiêu khí hậu theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 3.0), với mục tiêu giảm 47% lượng phát thải khí nhà kính ròng vào năm 2035 so với mức năm 2019 và hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Để thực hiện mục tiêu này, Thái Lan đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích; trong đó có ưu đãi thuế đối với điện mặt trời mái nhà hộ gia đình, tiêu chuẩn kết nối lưới điện, hỗ trợ phương tiện giao thông điện và ưu đãi đầu tư từ Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI).

Bà Munlika Sompranon cho biết sự gia tăng nhanh của điện mặt trời và xe điện đang tạo ra những thách thức đối với hệ thống điện, gồm nguồn cung biến đổi, dòng công suất hai chiều và các đỉnh phụ tải mới do hoạt động sạc xe điện. Để ứng phó, Thái Lan xác định phát triển lưới điện thông minh là ưu tiên, tập trung nâng cao khả năng dự báo công suất phát, khả năng hiển thị của lưới điện cục bộ và điều khiển linh hoạt.

Các giải pháp kỹ thuật được triển khai gồm hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) để chuyển lượng điện dư thừa vào buổi trưa sang giờ cao điểm chiều tối; cơ chế phản ứng nhu cầu (Demand Response - DR); hệ thống quản lý năng lượng (EMS); nhà máy điện ảo (VPP); tăng cường dự báo năng lượng tái tạo và phát triển lưới điện vi mô (Microgrids) có khả năng tách khỏi lưới điện để cấp điện cho các phụ tải ưu tiên.

Đại diện Bộ Năng lượng Thái Lan cũng nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Theo bà Munlika Sompranon, phát triển các lưới điện vi mô thông minh ở cấp địa phương có thể giúp cộng đồng tự chủ về năng lượng, tạo tiền đề kết nối với lưới điện quốc gia và khu vực.

Đối với hợp tác ASEAN và hợp tác song phương Thái Lan - Việt Nam, bà Munlika Sompranon cho rằng hai nước có nhiều điểm tương đồng trong nỗ lực chuyển dịch năng lượng. Để thúc đẩy kết nối lưới điện liên quốc gia và thương mại năng lượng tái tạo, các nước cần hài hòa tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định pháp lý, chia sẻ dữ liệu vận hành và dự báo, đồng thời phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tin liên quan

Đưa tài sản trí tuệ thành động lực phát triển doanh nghiệp

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Tây Ninh đứng trước yêu cầu chuyển từ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sang quản trị, khai thác và thương mại hóa hiệu quả, đưa tài sản trí tuệ thành động lực phát triển doanh nghiệp.

Nghị quyết 57-NQ/TW: Xây dựng hệ sinh thái xuất khẩu số, tạo sức bật cho hàng Việt

Thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở ra một hướng đi mới cho xuất khẩu Việt Nam, giúp doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách với người tiêu dùng quốc tế, mở rộng thị trường và từng bước xây dựng thương hiệu trên môi trường số. Tuy nhiên, cơ hội đưa hàng Việt ra thế giới không chỉ nằm ở việc hiện diện trên các sàn thương mại điện tử mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức kinh doanh, chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và sự đồng bộ của hệ sinh thái hỗ trợ. Từ định hướng của Bộ Công Thương đến các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu đặt ra là chuyển xuất khẩu trực tuyến từ một kênh bán hàng tiềm năng thành năng lực kinh doanh thực chất, tạo giá trị lâu dài cho hàng hóa Việt Nam.

Khi đột phá giáo dục thành nền tảng của đột phá công nghệ

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngày 28/10 nhấn mạnh yêu cầu triển khai đồng bộ Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, đưa giáo dục đại học trở thành nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chủ công nghệ và tạo ra những động lực tăng trưởng mới.

Tin cùng chuyên mục

Khẳng định vị thế và niềm tin: Câu trả lời thực chất từ sự phát triển của Việt Nam

Trong quan hệ quốc tế, khác biệt về quan điểm không thể trở thành lý do cản trở quyền hợp tác và phát triển chính đáng của mỗi quốc gia. Những thành tựu thực chất của Việt Nam trong phát triển kinh tế, bảo đảm quyền con người và nâng cao đời sống nhân dân, cùng sự tin cậy của các đối tác quốc tế, là câu trả lời thuyết phục trước những thông tin phiến diện và các hoạt động tìm cách gây sức ép, chia rẽ.

Tôn vinh tiếng Việt: Nối nhịp cầu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản

Đối với thế hệ trẻ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Nhật Bản, tiếng Việt không chỉ là phương tiện giao tiếp với gia đình mà còn là sợi dây kết nối với cội nguồn, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Khi được tạo điều kiện sử dụng tiếng mẹ đẻ và trải nghiệm văn hóa Việt Nam trong đời sống hằng ngày, các em có thể hiểu sâu sắc hơn về nguồn gốc của mình, đồng thời trở thành cầu nối giữa cộng đồng người Việt với xã hội Nhật Bản. Đây là nhận định của Giáo sư Masaaki Shimizu, Đại học Osaka, trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN.

Phát triển ngành robot: Gắn nghiên cứu robot với nhu cầu thực tiễn

Ngành robot tại Mỹ đang phát triển nhanh nhờ những tiến bộ của trí tuệ nhân tạo (AI), với phạm vi ứng dụng ngày càng mở rộng từ sản xuất công nghiệp sang nhiều lĩnh vực đời sống. Từ kinh nghiệm nghiên cứu tại Mỹ, nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành Khoa học Máy tính tại Đại học George Mason (Mỹ) Lê Minh Nhật cho rằng Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, đồng thời định hướng nghiên cứu sát với nhu cầu thực tế để đẩy nhanh quá trình ứng dụng công nghệ robot.

Tái cấu trúc không gian phát triển, mở dư địa tăng trưởng cho An Giang

hực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, tỉnh An Giang tái cấu trúc toàn diện không gian phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đa tầng, đa cực, phát triển hệ thống hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ.