Những nhà khoa học đưa tri thức vào đời sống
Không chỉ tạo ra tri thức mới, các nhà khoa học còn góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, tham gia hoàn thiện chính sách, đào tạo con người và gìn giữ những giá trị khoa học cho các thế hệ sau.
Nghiên cứu khoa học tại Trung tâm R&D Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. 
Ảnh: Tiến Lực - TTXVN

Trong bối cảnh đất nước đặt ra yêu cầu ngày càng cao về đổi mới mô hình phát triển và nâng cao chất lượng nguồn lực, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học càng trở nên rõ nét. Không chỉ tạo ra tri thức mới, các nhà khoa học còn góp phần đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, tham gia hoàn thiện chính sách, đào tạo con người và gìn giữ những giá trị khoa học cho các thế hệ sau.

*Đưa kinh nghiệm khoa học vào đời sống và chính sách

Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội Nguyễn Anh Trí. 
Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Hơn 40 năm gắn bó với ngành y, Anh hùng Lao động, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí, Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV, Thành viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đã dành phần lớn sự nghiệp cho lĩnh vực huyết học - truyền máu. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội, ông lựa chọn một chuyên ngành khi đó còn nhiều khó khăn và gắn bó lâu dài với lĩnh vực này. Đặc biệt, trên cương vị lãnh đạo Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, ông cùng các đồng nghiệp tham gia xây dựng, phát triển hệ thống truyền máu, ngân hàng máu và thúc đẩy phong trào hiến máu tình nguyện. "Lễ hội Xuân Hồng", "Hành trình Đỏ" là những chương trình có sức lan tỏa rộng, góp phần bổ sung nguồn máu phục vụ cấp cứu, điều trị và đưa hoạt động hiến máu tình nguyện đến gần hơn với cộng đồng. Từ một yêu cầu cấp thiết của ngành y, hiến máu tình nguyện từng bước trở thành hoạt động xã hội thu hút đông đảo người dân tham gia, qua đó tạo thêm nguồn máu cho điều trị và lan tỏa tinh thần sẻ chia trong cộng đồng.

Những kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm khám, chữa bệnh và quản lý y tế cũng được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí đưa vào các ý kiến đóng góp tại Quốc hội, đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến ngành y. Trong quá trình sửa đổi Luật Khám bệnh, chữa bệnh, nhiều vấn đề trực tiếp tác động đến hoạt động của hệ thống y tế như chức danh nghề nghiệp, Hội đồng Y khoa quốc gia, cơ chế tự chủ bệnh viện và quản lý tài sản công tại các cơ sở y tế đã được đề cập từ thực tế chuyên môn và quản lý. Thiếu thuốc, thiếu vật tư y tế, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế hay thủ tục chuyển tuyến cũng là những vấn đề được đề cập từ thực tế quản lý và điều hành cơ sở y tế. Từ góc nhìn này, những bất cập của ngành không chỉ nằm ở chuyên môn mà còn liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người bệnh, điều kiện làm việc của đội ngũ y tế và khả năng vận hành của toàn hệ thống. Trong quá trình tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, ông còn đứng tên đề nghị xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính, sau được điều chỉnh thành đề nghị xây dựng Luật Bản dạng giới. Đây là vấn đề mới, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của một nhóm người trong xã hội, đòi hỏi việc xây dựng chính sách phải dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn và cách tiếp cận nhân văn.

Bên cạnh công việc chuyên môn và những đóng góp trong xây dựng chính sách, pháp luật, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí còn thực hiện gìn giữ di sản của giới khoa học Việt Nam. Từ mong muốn lưu giữ những tài liệu, hiện vật, ký ức và câu chuyện về cuộc đời các nhà khoa học trước nguy cơ thất lạc theo thời gian, Trung tâm và Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam được xây dựng và từng bước phát triển. Đến nay, hệ thống đã sưu tầm, lưu giữ hơn 1 triệu tài liệu, hiện vật của trên 7.000 nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực. Trong đó có bản thảo nghiên cứu, thư từ, nhật ký và nhiều vật dụng gắn với quá trình làm khoa học. Những tài liệu, hiện vật này không chỉ phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của từng cá nhân mà còn phần nào tái hiện chặng đường phát triển của khoa học Việt Nam, từ điều kiện nghiên cứu, môi trường đào tạo đến những đóng góp của nhiều thế hệ trí thức. Cùng với việc sưu tầm, công tác số hóa dữ liệu, xây dựng các hình thức trưng bày và tổ chức hoạt động giáo dục cũng được chú trọng, giúp kho tư liệu không chỉ được bảo quản mà còn từng bước phục vụ cộng đồng, mở rộng giá trị từ lưu giữ ký ức sang giáo dục và truyền cảm hứng cho thế hệ sau.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí từng bày tỏ mong muốn hiến tặng Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam cho Nhà nước. Với mong muốn đó, những tư liệu đã được sưu tầm không chỉ là tài sản của một cá nhân hay tổ chức, mà còn phản ánh quá trình lao động, nghiên cứu và cống hiến của nhiều thế hệ nhà khoa học, cần được tiếp tục gìn giữ và khai thác để phục vụ cộng đồng.

*Đưa lịch sử trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. 
Ảnh: Diệu Thúy - TTXVN

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, có nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và tham gia các chương trình khoa học lớn về lịch sử Việt Nam, trong đó luôn nhấn mạnh rằng nghiên cứu lịch sử không chỉ nhằm làm rõ những vấn đề của quá khứ mà còn phải góp phần cung cấp căn cứ khoa học cho nhận thức xã hội, giáo dục thế hệ trẻ và những yêu cầu đang đặt ra trong quá trình phát triển đất nước.

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thế hệ các nhà sử học đi trước, đặc biệt là Giáo sư Phan Huy Lê. Trong ký ức của mình, người thầy ấy luôn hiện lên với hình ảnh làm việc gần như quên mình, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của nhà sử học đối với đất nước và không ngừng tìm tòi những vấn đề mới để khoa học lịch sử đóng góp nhiều hơn cho xã hội.

Từ nền tảng được đào tạo tại Đại học Tổng hợp Hà Nội và sau đó tại Đại học Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov, phương pháp định lượng, thống kê đã được đưa vào nghiên cứu lịch sử, đặc biệt trong quá trình xử lý nguồn tư liệu địa bạ với khối lượng lớn, qua đó mở ra những cách tiếp cận mới đối với lịch sử kinh tế - xã hội và giúp việc nghiên cứu không chỉ dựa trên mô tả mà còn có thêm cơ sở dữ liệu để phân tích, đối chiếu. Từ hướng nghiên cứu đó, nhiều chương trình khoa học gắn với những vấn đề quan trọng của đất nước được triển khai, trong đó có nghiên cứu lịch sử các vùng đất, đổi mới hệ thống chính trị và quá trình hình thành, phát triển vùng đất Nam Bộ. Các kết quả nghiên cứu về Nam Bộ không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn góp phần cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học để nhận thức đầy đủ hơn về lịch sử hình thành, phát triển và chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này, cho thấy sử học không chỉ giải thích quá khứ mà còn có thể góp phần làm rõ những vấn đề đang đặt ra trong hiện tại.

Một công việc được dành nhiều tâm huyết là tham gia Đề án khoa học xã hội cấp quốc gia nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam, thường được gọi là bộ Quốc sử, trong đó trực tiếp làm chủ biên hai tập và tham gia công tác tổng chủ biên. Theo thông tin được chia sẻ, khoảng 300 nhà nghiên cứu tham gia biên soạn bộ sách gồm 25 tập thông sử và 5 tập biên niên sự kiện, với tổng dung lượng khoảng 17.200 trang, tập hợp thành quả nghiên cứu của nhiều thế hệ sử học Việt Nam và tạo nền tảng tư liệu quan trọng cho nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến lịch sử dân tộc.

Bên cạnh nghiên cứu chuyên sâu, cách truyền đạt lịch sử tới thế hệ trẻ cũng là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Việc một bộ phận học sinh không hứng thú với môn Lịch sử không thể chỉ quy trách nhiệm cho người học mà cần được nhìn từ chương trình, phương pháp và cách tổ chức dạy học, bởi nếu học sinh phải ghi nhớ quá nhiều diễn biến, ngày tháng, địa danh, nhân danh mà chưa hiểu ý nghĩa của sự kiện thì lịch sử rất dễ trở thành một môn học nặng nề. Khi tham gia xây dựng sách giáo khoa, một trong những yêu cầu được đặt ra là phải làm cho học sinh yêu thích môn học trước khi yêu cầu ghi nhớ một khối lượng kiến thức, đồng thời cần coi lịch sử là một khoa học, trong đó mỗi kết luận phải có căn cứ, có quá trình lập luận để người học hiểu vì sao sự kiện diễn ra như vậy, thay vì chỉ tiếp nhận những nội dung phải thuộc lòng.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, cần tăng các hoạt động trải nghiệm tại di tích, bảo tàng và những không gian gắn với lịch sử để người học có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với dấu tích của quá khứ, từ đó việc học không chỉ dừng ở ghi nhớ mà còn tạo được sự hứng thú, khơi gợi nhu cầu tìm hiểu và giúp lịch sử trở nên gần gũi hơn với đời sống. Từ cách tiếp cận đó, lịch sử còn được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có thể đóng góp cho phát triển công nghiệp văn hóa, bởi những chiến thắng, nhân vật, di tích và câu chuyện lịch sử hoàn toàn có thể được chuyển hóa thành sản phẩm bảo tàng, nghệ thuật, du lịch, điện ảnh và nhiều loại hình văn hóa khác, vừa góp phần bảo tồn những giá trị của quá khứ, vừa tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của công chúng hiện nay.

Trong nhiều năm làm công tác đào tạo, việc giảng dạy các thế hệ sinh viên, hướng dẫn học viên cao học, nghiên cứu sinh và giới thiệu lịch sử Việt Nam tại một số trường đại học ở nước ngoài cũng được xem là một phần quan trọng của quá trình trao truyền tri thức, bởi đóng góp của người làm khoa học không chỉ nằm ở số lượng công trình đã công bố mà còn ở khả năng đào tạo con người, truyền lại phương pháp nghiên cứu và khơi dậy niềm say mê khám phá tri thức.

Với lịch sử, giá trị của nghiên cứu vì thế không dừng ở việc hiểu đúng quá khứ mà còn nằm ở khả năng làm cho những giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về dân tộc, tạo thêm cơ sở cho giáo dục, văn hóa và mở rộng những cách khai thác tri thức lịch sử phục vụ sự phát triển của xã hội./.


Tin liên quan

6 nhà khoa học Việt Nam giành Giải thưởng Sáng tạo châu Á 2024

Quỹ toàn cầu Hitachi vừa công bố danh sách 15 nhà khoa học ASEAN được trao Giải thưởng Sáng tạo châu Á năm 2024. Trong số 15 nhà khoa học đoạt giải, có 6 nhà khoa học Việt Nam, đó là: PGS.TS Nguyễn Hữu Hiếu, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) và PGS.TS Nguyễn Thị Ái Nhung, Trường Đại học Khoa học (Đại học Huế) được trao Giải thưởng sáng tạo xuất sắc. PGS. TS Lương Xuân Điển, Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội; PGS. TS Nguyễn Đình Quân, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh); TS Võ Nguyễn Xuân Phương, Trường Đại học Tôn Đức Thắng; PGS.TS Vũ Thu Trang, Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội được trao Giải Khuyến khích.  

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Cường: Nhà khoa học Việt Nam thứ hai được bầu làm Viện sĩ thông tấn nước ngoài

Theo thông tin từ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tại phiên họp ngày 17/10/2025 của Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn Pháp (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Cường, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã được bầu làm Viện sĩ thông tấn nước ngoài (Correspondant étranger) ở tuổi 45. Ông là nhà khoa học Việt Nam thứ hai nhận vinh dự này, sau cố Giáo sư Phan Huy Lê.  

Kiều bào – Cầu nối tri thức, công nghệ và sức mạnh mềm của Việt Nam

Nghị quyết 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài được ban hành trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu huy động nguồn lực tri thức, khoa học, công nghệ và các mạng lưới hợp tác quốc tế ngày càng trở nên cấp thiết. Theo Thạc sĩ Nguyễn Phương Chung, Giảng viên kiêm Giám đốc Chương trình tiếng Việt thuộc Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á, Đại học Columbia (Mỹ), Nghị quyết 23 thể hiện bước chuyển quan trọng trong tư duy đánh giá vị trí, vai trò và sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Tin cùng chuyên mục

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Những cách tiếp cận từ cơ sở đang mở ra hướng nâng cao năng lực quản trị, giúp người dân chủ động hơn và để công nghệ thực sự trở thành công cụ thu hẹp khoảng cách.

Công nghệ lõi mở dư địa mới cho hợp tác Việt – Pháp

Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Cộng hòa Pháp được kỳ vọng tạo thêm động lực để quan hệ Việt - Pháp chuyển mạnh từ hợp tác thương mại hàng hóa sang công nghệ lõi, trong bối cảnh Việt Nam đứng trước yêu cầu thay đổi về chất mô hình tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực.

Từ rác thải nhà bếp đến "mỏ vàng" nhiên liệu hàng không bền vững

Thu gom dầu ăn đã qua sử dụng (UCO) để tạo nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất dầu diesel sinh học (Biodiesel) hoặc nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) là một trong những hướng phát triển bền vững được nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang triển khai nhằm góp phần đảm bảo an ninh năng lượng và giảm phát thải.

Việt Nam- Pháp: Động lực mới cho phát triển thương mại và đầu tư

Việt Nam và Pháp chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 4/1973, nâng cấp lên Đối tác chiến lược nhân kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (2013) và lên Đối tác chiến lược toàn diện tháng 10/2024. Hai nước thường xuyên duy trì trao đổi đoàn các cấp nhiều cơ chế hợp tác song phương đa dạng; phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế. Đặc biệt, từ khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) có hiệu lực đến nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Pháp đã đánh dấu bước tiến mới cũng như mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp hai bên. Do đó, chuyến thăm chính thức Pháp và dự Hội nghị Thượng đỉnh không gian vũ trụ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kỳ vọng tạo thêm động lực để hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư cũng như các ngành công nghệ chiến lược bước sang chặng đường phát triển mới thực chất, hiệu quả.

Việt - Pháp mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chiến lược

Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn Thales phụ trách khu vực châu Á và Mỹ Latinh, ông Guy Bonassi nhận định quan hệ Việt - Pháp đang có động lực phát triển đặc biệt tích cực, trong đó khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện tạo điều kiện thuận lợi để hai nước vượt ra ngoài quan hệ thương mại truyền thống, thúc đẩy hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực chiến lược, nhất là công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Thế hệ trẻ tạo sức sống mới cho quan hệ Việt - Pháp

Giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud thuộc Đại học Montpellier Paul-Valéry cho rằng cần thu hút nhiều hơn sự tham gia của thế hệ trẻ vào quan hệ Việt - Pháp, thông qua các dự án tạo cơ hội gặp gỡ giữa thanh niên hai nước trong các lĩnh vực giáo dục, nghệ thuật, thể thao, kiến trúc, ký ức lịch sử và đặc biệt là những hoạt động hướng tới tương lai.