Vùng Đông Nam Bộ: Từ không gian mới đến cực tăng trưởng chiến lược - Bài 2: Khơi thông nguồn lực để bứt phá
Để vùng Đông Nam Bộ tiếp tục giữ vững vai trò vùng tăng trưởng năng động nhất cả nước và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn vốn hay triển khai thêm các dự án lớn. Quan trọng hơn là phải khơi thông, kết nối và chuyển hóa hiệu quả những nguồn lực đang có thành năng lực tăng trưởng mới.
Các nhà máy sản xuất tại Khu công nghiệp TMTC, thuộc Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Minh Phú - TTXVN


* Hoàn thiện kết nối hạ tầng

Sau nhiều năm duy trì vai trò đầu tàu kinh tế, các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ nói riêng, cả vùng nói chung đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ những điểm nghẽn đã tồn tại trong quá trình phát triển, qua đó tạo thêm dư địa tăng trưởng.

Báo cáo “Gia tăng liên kết logistics nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam – Chi nhánh khu vực TP. Hồ Chí Minh (VCCI-HCM) phối hợp cùng Đại sứ quán Australia công bố tháng 8/2025, cho thấy Vùng Đông Nam Bộ, là vùng kinh tế trọng điểm, đóng góp gần 32% GDP và 44,7% ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã gây ra nhiều “điểm nghẽn” về hạ tầng giao thông, cùng với những quy trình, thủ tục còn chồng chéo, khiến chi phí logistics tăng cao và làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Trước thực trạng này, báo cáo đã đề xuất ba nhóm giải pháp đột phá; trong đó, nhấn mạnh đến giải pháp tối ưu hóa cơ sở hạ tầng thông qua việc tăng cường kết nối đồng bộ giữa các phương thức vận tải như đường bộ, đường thủy, đường sắt và hàng không. Đặc biệt là việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng sân bay Long Thành và cụm cảng Cái Mép – Thị Vải. Vì vậy, tháo điểm nghẽn ở vùng Đông Nam Bộ cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ giải phóng nguồn lực phát triển của toàn vùng, chứ không đơn thuần là xử lý những vướng mắc của từng dự án, từng địa phương.

Thực tiễn của vùng Đông Nam Bộ cho thấy nguồn lực phát triển không thiếu. Vấn đề là các nguồn lực đang tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và đôi khi chưa được kết nối thành một sức mạnh thống nhất. Vốn đầu tư công cần được kết nối với vốn tư nhân; hạ tầng giao thông phải kết nối với khu công nghiệp, cảng biển và sân bay; đào tạo nhân lực phải gắn với nhu cầu doanh nghiệp; dữ liệu phải được chia sẻ để hỗ trợ quản trị; còn các địa phương phải nhìn lợi ích phát triển trong một không gian lớn hơn ranh giới hành chính.

Báo cáo với đoàn giám sát của Quốc hội vào tháng 5/2026 vừa qua, lãnh đạo các địa phương trong vùng Đông Nam bộ đều cho biết, khó khăn lớn nhất hiện nay của dự án là công tác tái định cư, giải phóng mặt bằng và xử lý thủ tục đất đai tại một số địa phương; tiến độ bàn giao mặt bằng tại một số dự án thành phần chưa đáp ứng yêu cầu.

Thực tế từ 4 dự án trọng điểm gồm Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Vành đai 3, Vành đai 4 TP. Hồ Chí Minh và cao tốc Biên Hòa-Vũng Tàu cho thấy, các dự án đều có nguy cơ chậm tiến độ rất cao do nhiều gói thầu triển khai chậm, vướng mặt bằng, thiếu nguyên vật liệu. Kết nối giao thông giữa sân bay Long Thành với các tuyến giao thông trọng điểm và các đô thị trung tâm của vùng chưa được triển khai đồng bộ, liên thông và hiệu quả.

Ông Phạm Bình An, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh phân tích, lõi của vùng Đông Nam bộ và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam trước đây trọng tâm tăng trưởng nằm ở 4 tỉnh thành là: TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương và Đồng Nai. Giờ khi TP. Hồ Chí Minh mới đã sáp nhập ba tỉnh thành lại với nhau thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối.

“Ví dụ như câu chuyện kết nối TP. Hồ Chí Minh - Bình Dương trước đây với Quốc lộ 13 gần như tắc nghẽn đã nhìn ra, hay là metro trước chỉ là chuyện trong nội đô TP. Hồ Chí Minh thì tới đây sẽ mở rộng ra và sẽ kết nối các vùng khác. Tôi cho rằng, với TP. Hồ Chí Minh mới và đặc biệt quan tâm thực tế quy hoạch và triển khai quy hoạch vùng thì tới đây thì những vấn đề về liên kết, kết nối sẽ giải quyết tốt hơn và tốc độ sẽ nhanh hơn”, ông Phạm Bình An nói.

Trong giai đoạn mới, cạnh tranh giữa các địa phương, giữa các vùng cũng không còn chủ yếu dựa vào ưu đãi đầu tư. Lợi thế ngày càng được quyết định bởi chất lượng điều hành, hiệu quả thực thi chính sách, tốc độ xử lý thủ tục, chất lượng hạ tầng, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tạo dựng niềm tin dài hạn với nhà đầu tư.

Dưới góc độ nhà đầu tư, ông Đặng Minh Trường, Chủ tịch HĐQT Sun Group đề xuât Chính phủ và UBND TP. Hồ Chí Minh đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án hạ tầng mang tính liên kết vùng, đường sắt đô thị, cao tốc và hệ thống cảng logistics. Đây là những dự án then chốt có vai trò nền tảng cho việc thúc đẩy giai đoạn mới TP. Hồ Chí Minh và toàn bộ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Những điểm nghẽ về thể chế đang được từng bước tháo gỡ, nhất là Luật phát triển đô thị vừa được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, quá trình đưa Luật vào thực tiễn cũng cần sớm được các bộ ngành, địa phương cụ thể hóa để hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng và nâng cao năng suất của nền kinh tế của từng địa phương nói riêng, vùng Đông Nam Bộ nói chung.

Trong bối cảnh đó, hạ tầng của vùng Đông Nam Bộ đang chuyển từ tư duy “mỗi địa phương một công trình” sang hình thành một mạng lưới liên kết. Qua đó, biến các lợi thế riêng lẻ của TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh thành một không gian kinh tế có khả năng bổ trợ và cộng hưởng lẫn nhau.

* Thúc đẩy liên kết và thể chế

Bên trong nhà ga hàng khách Sân bay quốc tế Long Thành (Đồng Nai) đang trong quá trình hoàn thiện. Ảnh; Công Phong - TTXVN

Trong bối cảnh cạnh tranh phát triển ngày càng gay gắt, lợi thế của vùng Đông Nam Bộ không còn chỉ đến từ vị trí địa lý, quy mô thị trường hay quỹ đất công nghiệp. Nhà đầu tư ngày càng quan tâm đến tốc độ xử lý thủ tục, khả năng dự báo chính sách, chất lượng nguồn nhân lực, năng lượng, dữ liệu, logistics và khả năng phối hợp giữa các cơ quan, địa phương.

Vùng Đông Nam Bộ đang đứng trước một cơ hội đặc biệt khi nhiều điều kiện cùng hội tụ: không gian phát triển mới, hệ thống sân bay và cảng biển, mạng lưới giao thông chiến lược, nền tảng công nghiệp, thị trường lớn, dòng vốn đầu tư quốc tế và tiềm năng phát triển các ngành kinh tế mới.

Theo các chuyên gia kinh tế, cơ hội chỉ trở thành tăng trưởng khi các nguồn lực được kết nối trong một cơ chế vận hành thống nhất. Bài toán của Đông Nam Bộ trong giai đoạn mới, vì thế, không phải đơn thuần là tìm thêm nguồn lực mà là khơi thông, kết nối và sử dụng hiệu quả những nguồn lực đang có; đồng thời, xác định thể chế phải đi trước để giải phóng nguồn lực; hạ tầng phải đi trước để mở rộng không gian; khoa học công nghệ và nguồn nhân lực phải đi trước để nâng năng suất.

Ông Phạm Việt Phương, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế tỉnh Đồng Nai, cho biết: Trong giai đoạn tới, Đồng Nai sẽ ưu tiên tập trung nguồn lực để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới vào các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, hàng không - vũ trụ, công nghệ lượng tử, công nghiệp sinh học, vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây và công nghiệp công nghệ số.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đồng Nai đang hướng tới xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ, trong đó có các cơ chế hỗ trợ tài chính thực chất nhằm thúc đẩy phát triển các ngành bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và công nghiệp công nghệ số. “Đồng Nai sẽ từng bước xây dựng thành công hệ sinh thái công nghiệp xanh, hiện đại, có sức cạnh tranh cao; tiếp tục khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đô thị sân bay xanh, thông minh, kết nối toàn cầu theo tinh thần Nghị quyết số 16-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065”, ông Phạm Việt Phương cho biết.

Trong khi đó, Tây Ninh cũng đang đứng trước cơ hội mở rộng không gian phát triển mạnh mẽ. Giai đoạn 2025-2030, tỉnh đặt mục tiêu huy động khoảng 177.000 tỷ đồng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; trong đó, vốn ngoài ngân sách chiếm khoảng 60%.

Theo Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh Nguyễn Văn Quyết, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực là yêu cầu tất yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm quốc phòng, an ninh của tỉnh.

Từ định hướng đó, Tây Ninh ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông chiến lược, logistics, cảng cạn, cảng thủy nội địa, hạ tầng năng lượng và công nghệ; từng bước hình thành mạng lưới giao thông liên hoàn kết nối các khu, cụm công nghiệp, cửa khẩu, trung tâm logistics và đô thị động lực với TP. Hồ Chí Minh, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia.

Sau khi mở rộng không gian phát triển, TP. Hồ Chí Minh cũng đã triển khai hàng loạt công trình quy mô lớn, có tính chất liên vùng, hướng biển. Trong số các dự án trọng điểm có tuyến đường vượt biển Cần Giờ - Vũng Tàu, cao tốc đô thị Hồ Tràm - Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ, cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, cầu đường Bình Tiên, cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài, các tuyến metro cùng các nút giao kết nối cao tốc Bến Lức - Long Thành với đường Rừng Sác và Quốc lộ 50…

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Hoàng Nguyên Dinh nhấn mạnh, việc đồng loạt triển khai các công trình chiến lược không chỉ là sự kiện đầu tư hạ tầng mà còn thể hiện cam kết của thành phố trong việc hiện thực hóa khát vọng phát triển, tạo nền tảng xây dựng đô thị hiện đại, kết nối và có sức cạnh tranh quốc tế.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch HĐQT Dongtam Group, cho rằng mô hình tăng trưởng mới của Đông Nam Bộ cần được xây dựng trên nền tảng kết nối đồng bộ giữa hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, cảng biển và logistics, thay vì phát triển riêng lẻ theo từng địa phương. Khi các hành lang kinh tế được hình thành và liên thông hiệu quả, chi phí logistics sẽ giảm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng lên, qua đó tạo sức hút đối với dòng vốn đầu tư chất lượng cao.

Vùng Đông Nam Bộ đã và đang có nhiều cơ chế phối hợp, nhưng để tạo ra một không gian phát triển thống nhất, liên kết cần chuyển từ việc phối hợp theo từng vụ việc sang cơ chế vận hành thường xuyên về quy hoạch, hạ tầng, đầu tư, dữ liệu và phân bổ nguồn lực.

Ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng các tỉnh, thành vùng Đông Nam Bộ cần tận dụng hiệu quả cơ chế liên kết vùng trong phát triển công nghiệp, vừa phát huy thế mạnh, lợi thế của từng địa phương, vừa tạo ra sự liên kết, hợp tác giữa các khu công nghiệp sinh thái cũng như giữa các vùng, hình thành chuỗi liên kết từ khâu cung cấp nguyên, nhiên liệu đến logistics và thị trường tiêu thụ.

Từ hạ tầng, đất đai, vốn đầu tư công đến nguồn lực tư nhân, khoa học công nghệ, nhân lực chất lượng cao và không gian phát triển mới, tất cả cần được vận hành trong một cơ chế liên kết vùng thực chất, với thể chế thông thoáng và năng lực quản trị đủ mạnh./.


Bài 3: Nâng chất dòng vốn đến hệ sinh thái tăng trưởng

Tin liên quan

Tạo đà cho nguồn nhân lực từ một mạng lưới tinh gọn

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa có hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp, tổ chức lại, giải thể các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hướng tới xây dựng mạng lưới tinh gọn, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân lực của đất nước, từng vùng và địa phương. Theo hướng dẫn, việc sắp xếp được thực hiện nhằm bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy hoạch và nhu cầu nhân lực. Một trong những yêu cầu trọng tâm là giảm tối thiểu 30% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, hoàn thành trước ngày 1/10/2026. Việc sắp xếp đồng thời hướng tới chuyển các cơ sở trực thuộc bộ, ngành về địa phương quản lý, trừ một số lĩnh vực đặc thù. 

Tin cùng chuyên mục

Vùng Đông Nam Bộ: Từ không gian mới đến cực tăng trưởng chiến lược - Bài 1: Vùng động lực số một cả nước

Từ "đầu tàu kinh tế" truyền thống, vùng Đông Nam Bộ đang chuyển mình sang mô hình phát triển dựa trên hạ tầng liên kết hiện đại, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, logistics, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế biển. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong nhiều năm liên tục, bài toán không chỉ là phát huy lợi thế của từng địa phương mà còn là tạo sức mạnh cộng hưởng của cả vùng thông qua cơ chế liên kết, huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Khi các nguồn lực được khơi thông và liên kết vùng được vận hành hiệu quả, Đông Nam Bộ sẽ tiếp tục khẳng định vị thế là cực tăng trưởng số một, dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới.

Ấn tượng chuỗi sự kiện văn hóa Việt Nam tại thủ đô nước Pháp

Theo phóng viên TTXVN tại Pháp, chuỗi hoạt động văn hóa chào mừng 81 năm Quốc khánh Việt Nam, với chương trình nghệ thuật, chiếu phim, triển lãm ảnh và không gian Chợ Quê, tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở thủ đô Paris ngày 19/9, đã thu hút đông đảo cộng đồng người Việt và công chúng Pháp tham dự.

Nghị quyết 23: Kiều bào là cầu nối tự nhiên và thiết thực giữa Việt Nam và Ấn Độ

Tối 20/9, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Trịnh Minh Mạnh đã có buổi gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại bang Tamil Nadu. Trong bối cảnh Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài mới được ban hành, cuộc gặp là dịp để Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của bà con, đồng thời trao đổi về việc phát huy nguồn lực kiều bào và tăng cường gắn kết với quê hương cũng như đóng góp cho quan hệ giữa hai nước.

Khi kiều bào trở thành “chủ thể”: Một tư duy mới về sức mạnh Việt Nam toàn cầu

Trong hành trình phát triển của dân tộc, có những thay đổi chính sách được nhận biết qua những quy định mới, nhưng cũng có những chuyển động sâu sắc hơn, được đánh dấu bằng sự thay đổi trong cách nhìn nhận về con người và nguồn lực phát triển. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài có thể được nhìn nhận từ chiều sâu ấy.

Dư địa mới trong quan hệ Việt Nam-Canada

Việt Nam và Canada đang đứng trước cơ hội đưa hợp tác khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo từ những dự án riêng lẻ trở thành các chương trình có sản phẩm và giá trị kinh tế cụ thể, trong đó trí tuệ nhân tạo (AI), hàng không vũ trụ và các công nghệ chiến lược có thể trở thành các lĩnh vực tạo đột phá. Đây là nhận định của PGS Vũ Việt Hưng làm việc tại Khoa Kỹ thuật Cơ khí và Hàng không Vũ trụ, Học viện Quân sự Hoàng gia Canada trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Ottawa trước thềm chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Canada.