Khoa học cơ bản là nền tảng tri thức dài hạn cho sự phát triển quốc gia
Các nhà khoa học cho rằng, việc nhìn nhận đúng vai trò chiến lược của khoa học cơ bản sẽ góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trung tâm đổi mới sáng tạo Công nghiệp 4.0 (IIC) thuộc Trường Quốc tế Miền Đông (Eastern International University). 
Ảnh minh họa: TTXVN

Nhiều nhà khoa học đồng tình, ủng hộ ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày 25/5. Các nhà khoa học cho rằng, việc nhìn nhận đúng vai trò chiến lược của khoa học cơ bản sẽ góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Cần đầu tư dài hạn và cơ chế tài trợ ổn định

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu, Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng, điểm quan trọng trong chỉ đạo lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là đã đặt nghiên cứu khoa học cơ bản đúng vị trí chiến lược. Khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật, mà còn là nền tảng tri thức dài hạn cho sự phát triển quốc gia. Một đất nước muốn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ không thể chỉ dựa vào tài nguyên thô, lao động giá rẻ, gia công hay tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Muốn có công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và năng lực cạnh tranh thực chất, trước hết phải có nền khoa học cơ bản đủ mạnh.

Đối với Việt Nam, điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và năng lực làm chủ công nghệ. Như trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản và môi trường, nếu thiếu nghiên cứu cơ bản về địa chất, địa hóa, khoáng vật học, địa vật lý, viễn thám, công nghệ tuyển – luyện và môi trường mỏ, tài nguyên, thì chỉ có thể dừng lại ở tiềm năng hoặc bị khai thác với giá trị thấp. Ngược lại, khoa học cơ bản mạnh giúp nhận diện khoáng sản một cách có chiến lược, hiểu quy luật thành tạo, phân bố, tích tụ, từ đó chủ động tìm kiếm, khai thác, chế biến sâu và sử dụng hiệu quả hơn. Đây là bước chuyển từ “có tài nguyên” sang “làm chủ tri thức về tài nguyên”, góp phần bảo đảm an ninh tài nguyên, an ninh năng lượng và nâng cao vị thế quốc gia.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu thông tin, địa chất là ngành khoa học nền tảng, có vai trò trực tiếp trong việc giải quyết các vấn đề chiến lược của đất nước. Địa chất không chỉ nghiên cứu đá, khoáng vật hay cấu trúc vỏ trái đất, mà còn cung cấp tri thức quan trọng về tài nguyên, môi trường, tai biến thiên nhiên, không gian lãnh thổ, biển đảo và là cơ sở cho phát triển kinh tế - xã hội. Đối với an ninh tài nguyên, địa chất có vai trò đi trước trong việc điều tra, đánh giá, dự báo và khoanh định tiềm năng khoáng sản. Trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh khoáng sản truyền thống, cần đặc biệt chú trọng các khoáng sản chiến lược như đất hiếm, lithium, nickel, cobalt, graphite, titan, zircon, thiếc, wolfram, đồng, vàng và các nguyên tố đi kèm trong quặng nghèo, quặng đa kim hoặc bãi thải mỏ. Đây là những nguồn nguyên liệu quan trọng cho pin, nam châm vĩnh cửu, bán dẫn, năng lượng tái tạo, quốc phòng và công nghệ cao. Vì vậy, điều tra địa chất cần kết hợp phương pháp truyền thống với địa hóa, địa vật lý, viễn thám, mô hình hóa 3D, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và phân tích hiện đại.

Nhà máy Điện gió Bạc Liêu ở xã Vĩnh Trạch Đông, thành phố Bạc Liêu. 
Ảnh minh họa: Duy Khương/TTXVN

Về vấn đề an ninh năng lượng, địa chất đóng góp ở cả hai lĩnh vực năng lượng truyền thống và năng lượng mới, từ dầu khí, than, địa nhiệt đến thủy điện, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, lưu trữ năng lượng và lưu trữ carbon. Chuyển dịch năng lượng xanh không làm giảm vai trò của địa chất, mà còn nâng cao vai trò của ngành này, vì nhiều công nghệ mới phụ thuộc lớn vào khoáng sản chiến lược.

Trong quy hoạch không gian phát triển, ngành địa chất cung cấp dữ liệu về nền móng, nước dưới đất, sụt lún, trượt lở, xói lở, động đất, không gian ngầm và sức chịu tải môi trường. Đồng thời, ngành này cũng góp phần phòng chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu và xây dựng hệ sinh thái phát triển bền vững, từ điều tra cơ bản, phòng thí nghiệm, công nghệ tuyển luyện, tái chế, dự trữ chiến lược đến hợp tác quốc tế và đào tạo nhân lực.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu nêu rõ, nghiên cứu khoa học cơ bản nói chung, tthời gian tới cần được định hướng theo ba trục lớn: tạo lập tri thức nền tảng, phục vụ các bài toán chiến lược quốc gia, hình thành năng lực công nghệ lõi và đội ngũ nhân lực tinh hoa. Không nên xem khoa học cơ bản là xa rời thực tiễn, nhưng cũng không nên ép khoa học cơ bản phải tạo ra sản phẩm thương mại nhanh chóng trong giới hạn thời gian quá ngắn. Lĩnh vực này cần được đầu tư dài hạn, có cơ chế tài trợ ổn định, nhóm nghiên cứu mạnh và môi trường học thuật trung thực, sáng tạo.

Đối với ngành địa chất, cần được nhìn nhận là ngành khoa học – công nghệ chiến lược, góp phần bảo đảm an ninh tài nguyên, an ninh năng lượng, quy hoạch phát triển, phòng chống thiên tai và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia. Các bên liên quan cần ưu tiên xây dựng các chương trình nghiên cứu cơ bản gắn với khoáng sản chiến lược quốc gia như đất hiếm, lithium, nickel, cobalt, graphite, titan – zircon, thiếc, wolfram, đồng, vàng, nhóm platin, khoáng sản biển sâu và các nguyên tố đi kèm trong quặng nghèo, quặng đa kim hoặc bãi thải mỏ. Mục tiêu không chỉ là phát hiện mỏ mới, mà còn cần phải hiểu rõ quy luật thành tạo, mô hình sinh khoáng, đặc điểm khoáng vật – địa hóa, công nghệ tuyển – luyện phù hợp và khả năng khai thác bền vững.

Khai thác than tại khai trường mỏ Tây Nam Đá Mài (Quảng Ninh). 
Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

Các ngành chức năng cần đầu tư có chiều sâu cho hệ thống phòng thí nghiệm địa chất – khoáng sản – môi trường hiện đại, đào tạo đội ngũ chuyên gia đủ năng lực vận hành thiết bị, xử lý dữ liệu, giải đoán kết quả và gắn kết nghiên cứu với thực tiễn; phát triển công nghệ tuyển – luyện, tái chế pin, tái chế nam châm đất hiếm, thu hồi nguyên tố hiếm và khai thác khoáng sản thứ sinh từ bãi thải mỏ, nhằm chuyển từ khai thác tài nguyên sang làm chủ chuỗi giá trị. Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất quốc gia hiện đại, số hóa, chuẩn hóa và liên thông.

Nhìn nhận đầy đủ vai trò của khoa học xã hội và nhân văn

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cần nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò chiến lược của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện nay, đồng thời cần có cơ chế riêng phù hợp với đặc thù của lĩnh vực này.

Từ góc nhìn chuyên gia, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều biến động về kinh tế, xã hội và công nghệ, việc phát huy vai trò của lĩnh vực này càng trở nên cần thiết nhằm nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển con người.

Khoảng hai thập niên gần đây, nhất là sau giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể và từng bước khẳng định vai trò trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển. Những kết quả đạt được thể hiện rõ trong việc phát triển hệ thống tổ chức nghiên cứu, gia tăng hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như sự tham gia ngày càng tích cực của giới khoa học vào quá trình tư vấn và phản biện chính sách.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng nêu rõ, trong kỷ nguyên mới, việc phát huy vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển bền vững đất nước đứng trước nhiều thách thức mới. Nếu như trước đây, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn chủ yếu được nhìn nhận ở phương diện cung cấp cơ sở lý luận, tổng kết thực tiễn và luận chứng cho các quyết sách lớn, thì hiện nay yêu cầu đặt ra đã cao hơn nhiều. Lĩnh vực này không chỉ lý giải hiện tượng xã hội, mà còn phải nhận diện sớm vấn đề, dự báo xu hướng, cảnh báo rủi ro và đề xuất các lựa chọn chính sách có tính khả thi trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp và khó lường. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp, năng lực phân tích và cơ chế tham gia của khoa học xã hội và nhân văn vào quá trình hoạch định chính sách. Một mặt, lĩnh vực này phải tham gia giải thích những biến đổi sâu sắc do công nghệ tạo ra đối với cấu trúc xã hội, quan hệ lao động, hành vi con người, chuẩn mực văn hóa, quyền công dân và trật tự quản trị. Mặt khác, bản thân khoa học xã hội và nhân văn cũng phải tự đổi mới phương pháp nghiên cứu, vượt khỏi lối tiếp cận thiên về mô tả, định tính đơn thuần để tăng cường năng lực phân tích dữ liệu, nghiên cứu liên ngành, mô hình hóa xu hướng và đánh giá tác động chính sách. Nếu không thích ứng, khoa học xã hội và nhân văn sẽ đứng trước nguy cơ tụt hậu ngay trong chính chức năng tư vấn chiến lược của mình.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, trong kỷ nguyên số, khoa học xã hội và nhân văn hiện nay không chỉ là “nghiên cứu về công nghệ”, mà sâu hơn là phải tham gia kiến tạo khuôn khổ giá trị, chuẩn mực đạo đức, nền tảng pháp lý và định hướng nhân văn cho quá trình phát triển công nghệ. Nói cách khác, nếu khoa học tự nhiên và công nghệ góp phần tạo ra khả năng mới cho phát triển, thì khoa học xã hội và nhân văn phải bảo đảm rằng sự phát triển ấy đi đúng hướng, phục vụ con người và không làm tổn hại đến công bằng xã hội, quyền con người và mục tiêu phát triển bền vững.

Để khoa học xã hội và nhân văn thực sự trở thành một nguồn lực tri thức quan trọng phục vụ quản trị quốc gia và phát triển bền vững, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, cả về nhận thức, thể chế và tổ chức thực hiện. Trong đó, một điều kiện tiên quyết để phát huy vai trò của khoa học xã hội và nhân văn là phải nâng cao nhận thức về vị trí, chức năng và giá trị của lĩnh vực này trong hệ thống khoa học quốc gia, quá trình hoạch định chính sách phát triển. Điều kiện nữa là cần tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách; đổi mới cơ chế quản lý và đầu tư; phát triển đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao; mở rộng hợp tác quốc tế để cập nhật xu hướng học thuật mới, mở rộng mạng lưới hợp tác nghiên cứu./.


Tin liên quan

Chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược

Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP ngày 20/5/2026 quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Chính sách học bổng quy định tại Nghị định này được áp dụng cho đối tượng tuyển sinh từ năm 2025 trở đi, thời điểm cấp học bổng tính từ ngày 1/9/2026. Theo đó, mức học bổng thấp nhất là 3.700.000 đồng/tháng, cao nhất là 8.400.000 đồng/tháng tùy thuộc trình độ đào tạo và nhóm chương trình, ngành đào tạo.

Tin cùng chuyên mục

Hiện thực giấc mơ an cư - Bài cuối: Mở cánh cửa chiến lược từ nhà ở cho thuê

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê, xác định đây là một trong những trụ cột chiến lược của chính sách nhà ở, đặc biệt tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và những khu vực có giá nhà vượt quá xa thu nhập của người dân. Phát triển nhà ở cho thuê, đặc biệt là nhà ở xã hội cho thuê chính là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng cơ hội an cư cho người thu nhập thấp, công nhân, lao động trẻ và người nhập cư tại các đô thị lớn. Đây không chỉ là câu chuyện về chỗ ở mà còn là nền tảng để bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị bền vững, mở rộng cánh cửa an cư cho người dân.

Hiện thực giấc mơ an cư - Bài 4: Đà Nẵng tìm lời giải từ nhà ở xã hội cho thuê

Trong khi nhiều địa phương vẫn loay hoay với bài toán thiếu nguồn cung nhà ở xã hội và áp lực sở hữu nhà ở ngày càng lớn, Đà Nẵng đang từng bước mở rộng quỹ nhà ở xã hội cho thuê, hướng tới hình thành một thị trường nhà ở cho thuê ổn định. Cách làm này không chỉ đáp ứng nhu cầu chỗ ở trước mắt của người lao động mà còn gợi mở thêm một hướng tiếp cận cho mục tiêu an cư bền vững trong bối cảnh mới.

Hiện thực giấc mơ an cư - Bài 3: Vướng mắc từ "nút thắt" tín dụng

Mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030 đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Tuy nhiên, nghịch lý là gói tín dụng 145.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực này mới giải ngân được khoảng 3.400 tỷ đồng, tương đương chưa tới 3% quy mô chương trình. Khi doanh nghiệp vướng thủ tục, người dân khó tiếp cận vốn vay, dòng tiền ưu đãi vẫn chưa thực sự đến được với những người cần nhà nhất.

Hiện thực giấc mơ an cư - Bài 2: Biến tướng “suất đầu tư sinh lời”

Bán suất mua nhà ở xã hội tại dự án X, nhận hỗ trợ làm trọn bộ hồ sơ nhà ở xã hội trên dịch vụ công, phí 1,5 triệu đồng/bộ, đồng hành 3-5 tháng đến khi bốc thăm... Hàng loạt những quảng cáo kiểu này xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội hay các hội nhóm chia sẻ kinh nghiệm mua nhà ở xã hội.

Dấu ấn Việt Nam tại Đối thoại Shangri-La: Chủ thể kiến tạo hòa bình giữa một thế giới biến động

Bài phát biểu dẫn đề của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đối thoại Shangri-la lần thứ 23 đã nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý, tạo ấn tượng mạnh trong giới nghiên cứu quốc tế. Trực tiếp tham dự, lắng nghe thông điệp quan trọng từ nhà lãnh đạo Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Neak Chandarith - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quốc tế và chính sách công (IISPP), Đại học Hoàng gia Phnom Penh (RUPP) đặc biệt quan tâm tới 6 đề xuất được nêu trong bài phát biểu dẫn đề phiên khai mạc, qua đó cho thấy Việt Nam đã định vị mình vững chắc trong vai trò chủ thể tích cực trong kiến tạo hòa bình và ổn định giữa một thế giới đang biến động nhanh chóng và khó đoán định.

Học giả Australia: Việt Nam áp dụng chính sách đối ngoại chủ động trong thời điểm then chốt

“Từ lâu, thế mạnh của Việt Nam nằm ở khả năng duy trì tính tự chủ chiến lược. Việt Nam có quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với cả 5 nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đó là một thành tựu ngoại giao mà ít quốc gia nào có được. Đặc biệt, việc có quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện với cả Mỹ và Trung Quốc có lẽ là minh chứng nổi bật nhất cho năng lực ngoại giao của Việt Nam”. Đây là nhận định của Giáo sư Carl Thayer - thuộc Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales - trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Australia.