Nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ chiến lược
Đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yêu cầu khách quan, là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước.

Trong bối cảnh mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã vượt ra khỏi phạm vi động lực kinh tế thuần túy để trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, tự chủ chiến lược và an ninh phát triển. Đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương cho ý kiến về Đề án “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ lượng tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh”. 
Ảnh: Thống Nhất – TTXVN

*Chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu

Nhận thức rõ vai trò của khoa học, công nghệ, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu để đổi mới mô hình phát triển, cơ cấu lại nền kinh tế và xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại. Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ; coi phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là nhân tố cơ bản tạo bước đột phá trong phát triển đất nước nói chung và phát triển kinh tế nói riêng. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.

Đặc biệt, Đại hội XIV chủ trương: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Quan điểm này tiếp tục được thể hiện rõ tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Trung Ý cho rằng, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Ảnh: Tuấn Anh-TTXVN

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Trung Ý,  Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc xây dựng mô hình phát triển hiện đại, bền vững và tự chủ. Về cơ bản, đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi căn bản phương thức phát triển quốc gia từ mô hình phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ và tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình phát triển dựa chủ yếu vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động nhằm tạo ra sự phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây là quá trình chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ phụ thuộc vào khai thác tài nguyên sang dựa vào tri thức và công nghệ; từ cạnh tranh bằng lao động giá rẻ sang cạnh tranh bằng công nghệ và đổi mới sáng tạo; từ tăng trưởng số lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của phát triển.

Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, những quốc gia sớm nắm bắt và làm chủ khoa học, công nghệ mới, đi tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đều tạo ra bước nhảy vọt về chất lượng tăng trưởng và vị thế quốc tế. Ngược lại, các quốc gia chậm thích ứng với xu thế phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số dễ rơi vào tình trạng tụt hậu, suy giảm sức cạnh tranh và đối mặt với nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.

Để thực hiện được mục tiêu đặt ra, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Trung Ý cho rằng, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, Đảng cần lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, tổ chức xây dựng, hoàn thiện cơ chế quản lý, khung pháp lý; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chương trình hành động của Đại hội XIV của Đảng; kịp thời phát hiện những lỗi thời trong xây dựng và thể chế hóa chính sách liên quan làm ảnh hưởng đến mục tiêu, nội dung của mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, tiếp tục đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức về mô hình phát triển mới của đất nước. Các cấp ủy đảng, chính quyền, nhất là người đứng đầu, cần thực sự tiên phong trong đổi mới tư duy phát triển, chuyển từ tư duy quản lý truyền thống sang tư duy quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ số; chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ quản lý quy trình sang quản trị theo mục tiêu và kết quả đầu ra.

Nhấn mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định sự thành công của mô hình phát triển mới, ông Dương Trung Ý đề xuất đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực, tư duy đổi mới sáng tạo, kỹ năng công nghệ và khả năng thích ứng của người học với môi trường luôn có sự biến đổi. Cần có chiến lược trọng dụng nhân tài với các cơ chế đãi ngộ vượt trội về thu nhập, điều kiện làm việc và môi trường nghiên cứu để thu hút đội ngũ chuyên gia giỏi, nhà khoa học đầu ngành, kể cả trí thức người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia phát triển đất nước. Đặc biệt, cần tôn trọng ý tưởng mới, chấp nhận sự khác biệt; bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, giảm tâm lý “sợ sai”, phát triển hệ sinh thái sáng tạo và xây dựng môi trường xã hội tôn trọng tri thức, khuyến khích sáng tạo, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ. Chỉ khi đổi mới sáng tạo trở thành một giá trị văn hóa phổ biến trong toàn xã hội, nó mới có thể trở thành động lực nội sinh cho đổi mới mô hình phát triển đất nước.

*Đổi mới mô hình tăng trưởng phải gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Văn Cường, đổi mới mô hình tăng trưởng phải gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững
Ảnh: TTXVN phát

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam nhận định, tăng trưởng kinh tế dựa nhiều vào gia tăng vốn đầu tư, thâm dụng lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên đang dần tới hạn và kìm hãm sự phát triển. Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.

Để làm được điều đó, theo Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường cần thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới quy trình sản xuất, tự động hóa, số hóa quản trị và phát triển sản phẩm mới, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn cho công nghệ thay vì chỉ mở rộng sản xuất theo chiều rộng. Cần có chiến lược phát triển các ngành công nghệ chiến lược có khả năng tạo ra năng lực cạnh tranh dài hạn, lựa chọn một số lĩnh vực ưu tiên có tính nền tảng và khả năng lan tỏa cao, trên cơ sở đánh giá nghiêm túc về năng lực, thế mạnh, khả năng tham gia chuỗi giá trị. Việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, không chỉ là của Nhà nước mà phải là mạng lưới liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, quỹ đầu tư, chuyên gia công nghệ và thị trường. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và đầu tư nền tảng; doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới; trường đại học và viện nghiên cứu là nguồn cung tri thức; thị trường vốn cung cấp tài chính cho rủi ro công nghệ và xã hội tạo ra văn hóa chấp nhận sáng tạo, thử nghiệm và thất bại có kiểm soát.

Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, đổi mới mô hình tăng trưởng phải gắn với chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Chuyển đổi xanh cần được xem là cơ hội tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, chứ không chỉ là chi phí môi trường. Phát triển năng lượng tái tạo,mgiao thông xanh, công nghiệp sạch, nông nghiệp carbon thấp, kinh tế tuần hoàn và đô thị xanh có thể tạo ra không gian tăng trưởng mới, việc làm mới và năng lực cạnh tranh mới.

Mô hình tăng trưởng mới phải dựa trên cơ cấu ngành và không gian phát triển kinh tế theo hướng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao và phát thải thấp; phát triển dịch vụ hiện đại như tài chính, logistics, giáo dục, y tế, công nghệ thông tin, thiết kế, tư vấn và dịch vụ sáng tạo; hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thông minh và nông nghiệp giá trị cao. Đồng thời, cần phát triển các vùng động lực, đô thị sáng tạo, trung tâm tài chính, trung tâm công nghệ cao và hành lang kinh tế liên vùng để tạo cực tăng trưởng mới.

Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Văn Cường nhấn mạnh, đổi mới mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quá trình chuyển đổi sâu sắc về chất của nền kinh tế Việt Nam. Đó là sự chuyển đổi từ nền kinh tế dựa vào lợi thế chi phí thấp sang nền kinh tế dựa vào tri thức; từ gia công sang sáng tạo; từ tăng trưởng thâm dụng vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên năng suất; từ phụ thuộc công nghệ sang từng bước làm chủ công nghệ; từ phát triển carbon cao sang phát triển xanh; từ hội nhập bị động sang hội nhập trên nền tảng tự chủ. Đây là con đường căn bản để Việt Nam tránh nguy cơ tụt hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI./.

Tin liên quan

Thu hút đầu tư nước ngoài để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ

Sáng 30/6/2026, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự hội nghị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Nghị quyết 10-NQ/TW thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển

Sáng 30/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: Nghị quyết 10-NQ/TW là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia. Triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.

Tin cùng chuyên mục

Giải bài toán chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia - Bài 1: Áp lực chi phí tăng cao

Hệ sinh thái và chi phí logistics là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Làm thế nào để kéo giảm chi phí logistics, cải thiện biên lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy xuất nhập khẩu là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh cả nước đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Thứ trưởng Trần Quốc Phương: Nguồn vốn ODA tiếp tục là động lực cho các dự án hạ tầng chiến lược

Đầu tư công tiếp tục được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vẫn giữ vai trò đáng kể đối với nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân nguồn vốn này vẫn chưa đạt kỳ vọng do nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai. Ngày 17/7, trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương đã làm rõ những nguyên nhân, giải pháp tháo gỡ cũng như định hướng nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng ODA trong thời gian tới.

Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm: Chuyển dịch từ "lượng" sang "chất" qua góc nhìn ADB

Kinh tế Việt Nam ghi nhận sức bật mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2026 với tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng đạt 8,18%. Các chuyên gia hàng đầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định rằng để duy trì đà bứt phá này một cách bền vững trong trung và dài hạn, việc chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên hiệu quả và năng suất thay vì thâm dụng các yếu tố đầu vào truyền thống đã trở thành yêu cầu mang tính cấp bách.

Học sinh tình nguyện hè lan tỏa những việc làm vì cộng đồng

Mỗi dịp hè, Chiến dịch tình nguyện "Hoa phượng đỏ" lại trở thành môi trường để học sinh phát huy tinh thần xung kích, trách nhiệm với cộng đồng. Tại Đồng Nai, hàng trăm học sinh đã tham gia nhiều hoạt động thiết thực, góp phần lan tỏa những việc làm ý nghĩa trong dịp nghỉ hè.

Viết tiếp hành trình của áo dài Việt với sức sống mới

Huế đang từng bước đưa áo dài trở lại đời sống bằng nhiều hoạt động bảo tồn, phục dựng và sáng tạo. Từ không gian di sản đến những con phố, tà áo truyền thống ngày càng hiện diện gần gũi, lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc, góp phần khẳng định vị thế “Kinh đô áo dài” và hiện thực hóa khát vọng đưa áo dài trở thành quốc phục của Việt Nam.

Kiến tạo vùng phát thải thấp, xây dựng Thủ đô xanh, văn minh

Việc Hà Nội chính thức triển khai Đề án vùng phát thải thấp (LEZ) trong khu vực Vành đai 1 không chỉ đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản lý môi trường đô thị mà còn thể hiện quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu của Luật Thủ đô năm 2026, hướng tới xây dựng Thủ đô xanh, văn minh và phát triển bền vững. Điều đáng ghi nhận là ngay sau khi Đề án được ban hành, thành phố đã đồng loạt triển khai nhiều giải pháp từ hạ tầng, tổ chức giao thông, ứng dụng công nghệ đến tuyên truyền, tạo sự đồng thuận của người dân.