Đầu tư công: Đòn bẩy cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia
Đầu tư công không chỉ đơn thuần là một công cụ để kích thích tổng cầu trong ngắn hạn mà quan trọng hơn là đòn bẩy để cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh dài hạn cho quốc gia.
Dự án bệnh viện Đa khoa tỉnh Cà Mau đang trong giai đoạn đẩy nhanh tiến độ thi công.
 Ảnh: Tuấn Phi - TTXVN

Quốc hội đã quyết nghị mục tiêu tăng trưởng năm 2026 ở mức 10%. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư; trong đó, có đầu tư công, giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, trong giai đoạn 2010-2024 cho thấy, mỗi 1% GDP vốn đầu tư công tăng thêm đóng góp khoảng 0,2% tăng trưởng GDP trong năm đầu tiên và tạo hiệu ứng lan tỏa lên tới 0,85% trong 4 năm tiếp theo. Những con số này cho thấy sức mạnh lan tỏa của đầu tư công là vô cùng lớn, đóng vai trò dẫn dắt cho toàn bộ dòng chảy kinh tế.

Hiện tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam tương đương khoảng 33% GDP, trong đó vốn đầu tư công chiếm gần 10% GDP, tương ứng khoảng 28% tổng cơ cấu vốn đầu tư. Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế tối thiểu 10% từ năm 2026 trở đi, mức độ phụ thuộc vào tăng trưởng đầu tư công vẫn là rất lớn.

Theo kịch bản giả định cho năm 2026, nếu GDP thực tăng 10% và lạm phát duy trì ở mức 4%, quy mô nền kinh tế có thể vượt 14 triệu tỷ đồng theo giá hiện hành. Khi đó, để đưa tổng vốn đầu tư xã hội lên mức 40% GDP theo định hướng của Chính phủ, nhu cầu vốn sẽ vào khoảng 5,8 triệu tỷ đồng; trong đó, vốn đầu tư công ước khoảng 1,65 triệu tỷ đồng.

Còn theo báo cáo của Bộ Tài chính, với mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội ước gần 4,93 triệu tỷ đồng, tương đương 33-33,7% GDP. Con số này cao hơn khoảng 18,7% so với mức 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương 32,3% GDP của năm 2025. Dù thấp hơn kịch bản giả định nêu trên, đây vẫn là một nhu cầu nguồn lực rất lớn.

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026 mới diễn ra gần đây, ông Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 2 con số đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực tài chính rất lớn, song quan trọng hơn là phải đa dạng hóa kênh huy động và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.

“Ngay cả với đầu tư công, trọng tâm không nên chỉ là danh mục các công trình, mà phải trả lời được câu hỏi các dự án đó có tạo ra hiệu ứng tăng trưởng cho các năm sau hay mang lại tác động dài hạn cho nền kinh tế hay không”, ông Hiển lưu ý.

Đề cập đến vai trò của vốn tín dụng, ông Nguyễn Đức Hiển đánh giá, ngành ngân hàng đã rất nỗ lực trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế trong thời gian qua; tuy nhiên, dư địa chính sách tiền tệ đang ngày càng thu hẹp.

Theo ông Hiển, khi nền kinh tế lệ thuộc quá nhiều vào hệ thống ngân hàng sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, đòi hỏi phải có những cải cách thực chất để các trụ cột khác của thị trường tài chính phát triển cân bằng hơn và cùng nhau chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn.

Ngoài ra, ông Hiển cũng cho rằng, hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn cần trở thành tiêu chí xuyên suốt trong quá trình giải ngân, áp dụng cho cả đầu tư công và đầu tư của khu vực tư nhân. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục cải thiện chất lượng thể chế và cơ chế vận hành của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, việc phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ cần được thực hiện một cách thực chất hơn, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng và đặc biệt là tạo dựng niềm tin cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Tuy nhiên, theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, huy động và sử dụng vốn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, do đó, bài toán then chốt không nằm ở quy mô vốn, mà ở hiệu quả sử dụng.

Một trong những vấn đề then chốt để nâng cao hiệu quả đầu tư công là đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Theo ông Tuấn, nhiều nghiên cứu cho thấy tốc độ và tính kịp thời của giải ngân có ý nghĩa không kém quy mô vốn.

“Giải ngân chậm không chỉ làm giảm hiệu quả kích cầu trong ngắn hạn, mà còn làm suy yếu khả năng chuyển hóa đầu tư công thành năng lực sản xuất mới trong trung hạn, nhất là khi các dự án hạ tầng lớn bị kéo dài tiến độ hoặc điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần”, ông Tuấn phân tích.

Trong khi đó, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung cho rằng, chính sách tài khóa cần tiếp tục đóng vai trò kiến tạo tăng trưởng dài hạn, được điều hành chủ động, bền vững và có trọng tâm, trong đó cơ cấu chi ngân sách nhà nước phải ưu tiên cho đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh xã hội.

Cùng đó, thị trường vốn tiếp tục được củng cố và phát triển để trở thành kênh huy động nguồn lực trung và dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế, từng bước giảm áp lực lên hệ thống tín dụng ngân hàng cũng như nâng cao tính minh bạch, an toàn của thị trường.

Ngoài ra, việc tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được xem là yếu tố then chốt nhằm vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng cao trong bối cảnh rủi ro ngày càng gia tăng. Đặc biệt, cải cách thể chế và xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định được xác định là giải pháp nền tảng, có tính quyết định để giữ chân các nguồn lực tài chính và thu hút doanh nghiệp, nhất là các nhà đầu tư có chiến lược dài hạn tại Việt Nam…/.

Tin liên quan

Hợp tác công - tư: Động lực mới cho tái cấu trúc đầu tư

Mô hình hợp tác công - tư (PPP) và chủ trương đẩy mạnh tư nhân hóa đầu tư công đang được triển khai mạnh mẽ, sâu rộng trong nhiều dự án hạ tầng chiến lược, từ giao thông, năng lượng, đến đô thị thông minh. Điều này thể hiện sự chuyển dịch tư duy phát triển - từ mô hình Nhà nước đầu tư toàn phần sang mô hình cùng kiến tạo giữa khu vực công và khu vực tư; trong đó, Chính phủ giữ vai trò "kiến tạo - dẫn dắt", doanh nghiệp tư nhân trở thành "động cơ thực thi và đổi mới".

Dòng vốn đầu tư công phía Nam tăng nhịp trước thềm 2026

Những ngày cuối năm 2025, các địa phương phía Nam đang nỗ lực tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công nhằm hoàn thành cao nhất kế hoạch được giao. Nhiều tỉnh, thành đồng loạt siết tiến độ, tháo gỡ thủ tục và tập trung xử lý các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, đấu thầu, thủ tục giá đất. Việc giải ngân đúng hạn không chỉ đáp ứng yêu cầu của Chính phủ mà còn tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng, hoàn thiện hạ tầng và chuẩn bị nền tảng cho giai đoạn đầu tư công trung hạn 2026 - 2030.

Bộ trưởng Tài chính Nguyễn Văn Thắng: Chủ động chính sách tài khóa cho tăng trưởng bền vững

Giữa bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, trong nước chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng kinh tế trên 8% trong năm 2025 và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Sáng ngày 31/12, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng xung quanh vai trò tham mưu chiến lược và điều hành linh hoạt của ngành tài chính trong hoàn thiện thể chế, điều hành chính sách tài khóa, thúc đẩy đầu tư công, phát triển thị trường vốn, qua đó tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Tin cùng chuyên mục

“Giữ lửa” nhịp điệu múa đặc sắc của dân tộc S’tiêng

Thông qua các chương trình biểu diễn, đội múa khuyến khích các thành viên đăng tải hình ảnh, video lên Zalo, Facebook. Đây là cách thực tế nhất để đưa điệu múa, bản sắc của người bản địa đến với mọi miền đất nước, giúp mọi người thêm hiểu và yêu quý văn hóa người S’tiêng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài cuối: Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực tổng hợp

Vùng kinh tế Đông Nam Bộ được xem là đầu tàu tăng trưởng, khu vực năng động bậc nhất của cả nước, đóng góp quan trọng vào GDP, xuất khẩu và thu ngân sách quốc gia. Trong bối cảnh hợp nhất địa giới hành chính, chuyển đổi mô hình phát triển và yêu cầu tăng trưởng bền vững, việc tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt của vùng đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, chính sách và hạ tầng cho hoạt động liên kết nội vùng, liên vùng.

Gỡ “nút thắt” kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 4: Tận dụng cơ chế

Thể chế liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ hiện nay bao gồm chính sách phát triển vùng do Trung ương ban hành, quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối vùng, cùng cơ chế, chính sách chung của quốc gia. Tuy nhiên, các cơ chế phối hợp liên vùng vẫn ở mức ban đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa hiệu quả giữa các địa phương thành phần sau khi hợp nhất. Việc hợp nhất đơn vị hành chính tạo ra dư địa hợp lực lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chung mang tính thực chất, hiệu quả.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 1: Điểm nghẽn hạ tầng

Đông Nam Bộ là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, có nhiều lợi thế về không gian phát triển với hệ thống cảng hàng không quốc tế, cảng biển lớn, mạng lưới giao thông trục Bắc – Nam và đường biên giới dài với nhiều cửa khẩu quốc tế. Trong bối cảnh tình hình mới, nhất là sau khi hợp nhất các địa phương, yêu cầu đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng Đông Nam Bộ càng trở nên cấp thiết. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành sắp đi vào khai thác, cùng định hướng hình thành Trung tâm Tài chính và Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ (TP. Hồ Chí Minh) được kỳ vọng sẽ tạo động lực phát triển mới cho toàn vùng.