Năm 2025, GDP của cả nước tăng 8,02%
Phát biểu tại cuộc họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, chiều 5/1, tại Hà Nội, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính, bà Nguyễn Thị Hương cho biết, năm 2025, Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: mưa, bão gây ngập lụt nghiêm trọng, lũ quét và sạt lở đất tại các địa phương đã ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân… nhưng với sự chỉ đạo linh hoạt, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, kinh tế Việt Nam đạt được kết quả toàn diện.


Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng ước đạt 8,02% so với năm trước, đạt mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ đề ra, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011- 2025.

Toàn cảnh họp báo. 
Ảnh: Thúy Hiền/BNEWS/TTXVN

“Đây là mức tăng trưởng rất tích cực, thể hiện sự quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của cả hệ thống chính trị trong chỉ đạo, điều hành và sự đồng hành, ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trước những biến động nhanh, bất thường trong khu vực và trên thế giới, cũng như ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ gây ra đối với sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân”, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh.

Cục Thống kê cho biết, trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế trong năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,3%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.

GDP quý IV/2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng cao nhất của quý IV các năm trong giai đoạn 2011-2025, duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước (quý I tăng 7,05%, quý II tăng 8,16%, quý III tăng 8,25%).

Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính, bà Nguyễn Thị Hương. 
Ảnh: Thúy Hiền/BNEWS/TTXVN

Cục Thống kê cũng chỉ ra, trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 ước tăng 3,48% so với năm trước, đóng góp 3,59% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,7% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,38%; ngành thủy sản tăng 4,41%, đóng góp 1,33%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,8% so với năm trước, đóng góp 35,15% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.

Các hoạt động thương mại, du lịch tăng cao, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 cao nhất từ trước đến nay, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 ước tăng 8,62%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: bán buôn và bán lẻ tăng 8,52% so với năm trước, đóng góp 10,62%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99%, đóng góp 8,69%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%, đóng góp 5,72%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%, đóng góp 3,34%.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,64%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%; khu vực dịch vụ chiếm 42,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 7,96% (Cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 12,03%; 37,52%; 42,35%; 8,10%).

Về sử dụng GDP năm 2025, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,95% so với năm 2024; tích lũy tài sản tăng 8,68%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 16,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 17,12%.

Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm 2024 (476 tỷ USD). GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD).

Robot hàn kim loại tại dây chuyền sản xuất container của Công ty Cổ phần sản xuất container Hòa Phát, thành phố Phú Mỹ. 
Ảnh: Hoàng Nhị - TTXVN

Cục Thống kê cho biết, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 245,0 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83%; trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024), tăng trưởng kinh tế đạt khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng.

“Bước sang năm 2026, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương cần tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số cùng với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây là thách thức lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Các ngành, các cấp và địa phương cần nhận thức rõ những khó khăn, thách thức để có giải pháp kịp thời, đồng thời chủ động tận dụng cơ hội nhằm xây dựng và thực hiện tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tạo đà tăng trưởng mạnh trong những năm tiếp theo”, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh./.

Tin liên quan

Kinh tế kiến tạo nền tảng bứt phá trong giai đoạn mới

Năm 2025 – năm tăng tốc về đích của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025 và năm bản lề chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, đồng thời ghi dấu ấn điều hành đầy bản lĩnh trong bối cảnh thế giới biến động khó lường.

Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà: Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thận trọng và linh hoạt

Bước sang năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ đề ra, cần tiếp tục có sự phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác để phát huy hiệu quả và thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà đã có cuộc chia sẻ với phóng viên TTXVN xung quanh những đánh giá, bài học kinh nghiệm, vai trò phối hợp giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và thị trường vốn và định hướng chính sách tiền tệ trong năm 2026.

Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh: Hạ tầng đi trước, tạo thế và lực cho phát triển

Bước sang năm 2026 - năm đầu tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, nhiệm vụ đặt ra đối với ngành xây dựng hết sức nặng nề với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Đổi mới sáng tạo: Trụ cột cho giai đoạn tăng trưởng mới

Đổi mới sáng tạo được khẳng định là động lực then chốt, là đòn bẩy mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới - kỷ nguyên đất nước chuyển mình. Dự thảo chương trình hành động của Ban chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã nêu rõ, việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, được xác định là một trong những nhiệm vụ chủ yếu.

Tin cùng chuyên mục

“Giữ lửa” nhịp điệu múa đặc sắc của dân tộc S’tiêng

Thông qua các chương trình biểu diễn, đội múa khuyến khích các thành viên đăng tải hình ảnh, video lên Zalo, Facebook. Đây là cách thực tế nhất để đưa điệu múa, bản sắc của người bản địa đến với mọi miền đất nước, giúp mọi người thêm hiểu và yêu quý văn hóa người S’tiêng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài cuối: Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực tổng hợp

Vùng kinh tế Đông Nam Bộ được xem là đầu tàu tăng trưởng, khu vực năng động bậc nhất của cả nước, đóng góp quan trọng vào GDP, xuất khẩu và thu ngân sách quốc gia. Trong bối cảnh hợp nhất địa giới hành chính, chuyển đổi mô hình phát triển và yêu cầu tăng trưởng bền vững, việc tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt của vùng đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, chính sách và hạ tầng cho hoạt động liên kết nội vùng, liên vùng.

Gỡ “nút thắt” kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 4: Tận dụng cơ chế

Thể chế liên kết kinh tế vùng Đông Nam Bộ hiện nay bao gồm chính sách phát triển vùng do Trung ương ban hành, quy hoạch vùng, Hội đồng điều phối vùng, cùng cơ chế, chính sách chung của quốc gia. Tuy nhiên, các cơ chế phối hợp liên vùng vẫn ở mức ban đầu, chưa đủ mạnh để điều hòa hiệu quả giữa các địa phương thành phần sau khi hợp nhất. Việc hợp nhất đơn vị hành chính tạo ra dư địa hợp lực lớn hơn, song cũng đặt ra yêu cầu mới về thiết lập cơ chế quản lý, điều phối chung mang tính thực chất, hiệu quả.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ – Bài 3: San sẻ nguồn lực cùng hành động

Sau khi hợp nhất các đơn vị hành chính, vùng Đông Nam Bộ cần điều chỉnh thể chế và cơ chế điều phối phát triển tương ứng với quy mô mới. Thực tế cho thấy, dù có vị thế kinh tế dẫn đầu cả nước, thể chế liên kết vùng hiện nay vẫn còn nhiều khoảng trống. Để thúc đẩy liên kết nội vùng, cần hoàn thiện thể chế liên kết vùng thông qua quy hoạch chiến lược phát triển chung, cơ chế tài chính chung, đầu tư hạ tầng trọng điểm và nâng cao hiệu lực của Hội đồng điều phối vùng.

Gỡ "nút thắt" kết nối giao thông Đông Nam Bộ - Bài 2: "Đường hướng" sẵn sàng

Nghị quyết Đại hội cũng như Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh đều xác định, đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng là một trong những trọng tâm nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương trong tổng thể phát triển vùng Đông Nam Bộ. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng như dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng.